Chứng khô miệng mạn tính ở người cao tuổi

 Theo thống kê, có tới 20-25% người cao tuổi là nạn nhân của chứng bệnh này. Nếu để lâu không điều trị, chứng khô miệng sẽ khiến bệnh nhân suy nhược do chán ăn, đồng thời rất dễ gặp các vấn đề về răng miệng như sâu răng, nấm lưỡi, áp xe tuyến mang tai. Do lượng nước bọt tiết ra ngày càng ít, người bệnh sẽ khó nhai, khó nuốt thức ăn khô, phải chan canh hoặc dùng thức ăn lỏng.

Dần dần, các rối loạn do khô miệng nặng hơn, nước bọt quánh đặc, ít đi, niêm mạc miệng trở nên đỏ, khô; lưỡi bóng và mất gai, gây đau, rối loạn vị giác, ăn không ngon miệng. Tình trạng khô miệng khiến người bệnh phải uống nước liên tục trong ngày, nhấp nước khi nói, thậm chí thức giấc nhiều lần trong đêm để uống nước. Hậu quả trực tiếp của tình trạng này là suy dinh dưỡng, mất ngủ, làm tăng thêm tình trạng suy nhược cơ thể.

Chứng khô miệng tạo điều kiện cho sự hình thành cao răng, khiến răng chóng sâu, mau rụng và gây bệnh viêm lợi. Nó cũng có thể dẫn đến một số biến chứng nguy hiểm như nấm lưỡi, áp xe tuyến mang tai.

Có hai nhóm nguyên nhân chính gây khô miệng:

Thiểu tiết nước bọt: Người già do ít có cảm giác khát nên thường uống không đủ nước. Một số người ít uống nước do gặp khó khăn khi vận động (sau tai biến mạch máu não, mắc một số bệnh lý xương khớp) hoặc do mắc chứng đái dầm, u xơ tiền liệt tuyến (phải đi tiểu thường xuyên). Điều này khiến lượng nước bọt tiết ra bị giảm đi.

Nuốt nhiều nước bọt: Thường gặp ở những người có bệnh lý vùng khoang miệng (khuyết răng, sâu răng, hàm giả không ổn định…) hay bị lo âu, trầm cảm.

Một số bệnh lý cũng dẫn đến khô miệng như u lympho, bệnh lý thần kinh, nội tiết hay rối loạn dinh dưỡng (như nghiện rượu mạn tính, đái tháo đường, đái tháo nhạt, thiếu máu…). Ngoài ra, chứng khô miệng còn xuất hiện do một số nguyên nhân khác: có thói quen thở bằng miệng (do tắc mũi); điều trị ung thư bằng chiếu xạ, dùng thuốc. Có khoảng 300 dược phẩm có thể gây giảm tiết nước bọt: các loại thuốc hướng thần (chữa trầm cảm, lo âu, rối loạn tâm thần), thuốc chữa các bệnh parkinson, tăng huyết áp, loạn nhịp tim, dị ứng, một số thuốc giảm đau, chống viêm thông thường… Các nghiên cứu đã chứng minh, thuốc có thể hủy hoại vĩnh viễn nhu mô tuyến nước bọt.

Để chẩn đoán chứng khô miệng, bác sĩ có thể đo dòng chảy nước bọt bằng cách đặt một cục đường dưới lưỡi. Bình thường, đường phải tan hết sau 3-4 phút. Nếu bệnh nhân bị khô miệng, cục đường vẫn còn nguyên hoặc chỉ tan rất ít. Các biện pháp chẩn đoán khác bao gồm: đo độ pH của nước bọt, chụp tuyến nước bọt mang tai, chụp đồng vị phóng xạ tuyến nước bọt, sinh thiết tuyến nước bọt…

Để khắc phục chứng khô miệng, cần điều trị nguyên nhân gây bệnh nếu có thể. Các biện pháp điều trị bổ sung bao gồm: giảm liều thuốc gây khô miệng hay thay bằng loại thuốc khác, tăng uống nước, nhai kẹo chua, kẹo cao su để kích thích tiết nước bọt.

Nếu những biện pháp trên không hiệu quả, bệnh nhân cần uống thêm thuốc kích thích bài tiết nước bọt như Sulfarlem S (3-6 viên/ngày), Pilocarpin (60-90 giọt/ngày), Geneserine 3 (3-6 viên/ngày), Bisolvon (4-6 viên/ngày). Dùng thuốc trong nhiều tuần, khi đạt hiệu quả thì bắt đầu giảm liều dần.

Trong một số trường hợp, có thể dùng nước bọt nhân tạo như Artisan (chứa methylcellulose) hay Saliva Orthana (chứa muxin).

Việc bảo vệ răng cũng rất quan trọng. Cần dùng thuốc đánh răng chứa fluor; trám và bọc các răng sâu, nếu răng bị hỏng nhiều thì phải nhổ. Phải bỏ hàm giả cố định khi bị di lệch, điều trị nấm lưỡi nếu có, lấy cao răng thường xuyên. Ngoài ra, cần sử dụng thức ăn lỏng, mềm.

BS Nguyễn Vĩnh Ngọc, Sức Khỏe & Đời Sốnga