Làm giảm đau răng bằng bấm huyệt

Xưa đã có câu: “Thứ nhất đau mắt, thứ nhì nhức răng”. Đau răng tuy không làm chết người nhưng gây nhức buốt và khổ sở vô cùng

Trong Đông y có huyệt thương dương mà khi bấm vào đó ta có thể làm giảm cơn nhức răng.

Vị trí và cách xác định huyệt: Huyệt này nằm ở trên đầu ngón tay trỏ, cách gốc móng tay về phía ngón cái khoảng 0,2mm trên đường tiếp giáp da gan ngón tay và mu ngón tay.

Bạn bị đau răng bên nào thì bấm huyệt bên tay đó. Ví dụ, đau răng hàm bên phải thì chọn huyệt ở ngón tay trỏ bên phải, đau răng hàm bên trái thì bấm huyệt thương dương ở ngón tay trỏ bên trái.

Cách làm này không thể chữa cho bạn khỏi bị sâu răng, hay bệnh viêm lợi răng… nhưng ít nhất cũng làm giảm đau giúp bạn có thể bình tĩnh đi đến bác sĩ khám răng mà không còn bị hành hạ bởi các cơn nhức răng nữa.

 

Theo Sức Khỏe & Đời Sống

Có nên vệ sinh lưỡi?

 

Hỏi

Thưa bác sĩ, em thường có thói quen đánh răng rất cẩn thận và thường xuyên. Tuy nhiên em còn được khuyên là nên cạo lưỡi nếu muốn hơi thở không có mùi khó chịu. Việc này có cần thiết và có gây ảnh hưởng gì không? Mong bác sĩ trả lời giúp em.

Trả lời:

Nếu đánh răng là việc bắt buộc thì vệ sinh lưỡi bằng cách cạo rửa lại chủ yếu phụ thuộc vào sự lựa chọn của bạn.

Tại sao việc đánh răng lại rất quan trọng? Đó là bởi chức năng chủ yếu của việc đánh răng là giúp loại trừ các mảng bám trên răng, chứ không phải để loại trừ mầm bệnh. Read more »

Lưỡi trắng do đâu?

 

Hỏi:

 

Thưa bác sĩ một vài ngày gần đây, tôi phát hiện thấy lưỡi mình bị trắng. Tôi đã thử đánh răng và kỵ lưỡi nhiều lần nhưng không đem lại kết quả gì. Xin cho hỏi nguyên nhân của hiện tượng trên là gì và có nguy hiểm không? Xin cảm ơn.

Trả lời:

Trước hết phải nói với bạn rằng, hiện tượng trắng lưỡi không xảy ra thường xuyên và không nguy hiểm. Read more »

5 nguyên nhân gây hôi miệng

Biết rõ nguyên nhân gốc rễ gây hôi miệng sẽ giúp điều trị chứng hôi miệng triệt để và hiệu quả nhất.

1. Hôi miệng do vi khuẩn trong miệng gây nên

Đây là nguyên nhân gây hôi miệng phổ biến nhất do các vi khuẩn sống chủ yếu ở vùng miệng và lưỡi gây nên.

Thường xuyên đánh răng, dùng nước súc miệng diệt khuẩn và sử dụng đồ chuyên dụng để vệ sinh lưỡi sẽ giúp loại bỏ các vi khuẩn khó chịu rất hiệu quả.

2. Hôi miệng do hàm răng giả

Làm hàm răng giả mà không thường xuyên tháo ra đánh rửa thì thức ăn có thể bám vào các kẽ răng tăng cường sự phát triển của các vi khuẩn gây hôi miệng.

Vậy nên, việc tháo ra đánh rửa răng giả thường xuyên là việc rất cần thiết để giảm nguy cơ bị hôi miệng.

3. Hôi miệng do khô miệng

Khô miệng cũng có thể là nguyên nhân gây hôi miệng, do thiếu độ ẩm các mô vùng miệng, không được làm sạch và vi khuẩn tiếp tục phát triển nhanh.

Uống đủ nước giúp tăng cường độ ẩm cho các mô vùng miệng để giảm vi khuẩn. Đánh răng và súc miệng đều cũng giúp giảm hôi miệng đáng kể.

4. Hôi miệng do thức ăn

Sử dụng các loại gia vị như hành, tỏi thường xuyên cũng có thể gây hôi miệng.

Giải pháp hiệu quả giảm hôi miệng sau khi ăn hành, tỏi là nên ăn rau mùi tây hoặc bạc hà để khử mùi hôi khó chịu này.

Cần đánh răng sau mỗi bữa ăn để giảm mùi khó chịu của thức ăn và hạn chế sự phát triển của các vi khuẩn gây hôi miệng.

5. Hôi miệng do hút thuốc lá

Hút thuốc lá không những gây hôi miệng mà còn gia tăng nguy cơ mắc các bệnh về nướu, lợi và phổi.

Tốt nhất nên bỏ hút thuốc để giảm hôi miệng và tránh ảnh hưởng đến sức khoẻ.

 

Theo Dân Trí

Làm gì khi bị tụt lợi ?

Cháu bị viêm lợi đã mấy năm nay, có uống thuốc vitamin C, PP nhưng không đỡ được là bao, răng rất hay bị chảy máu và buốt. Thời gian gần đây, lợi của cháu bị tụt rất nhiều, trông rất xấu. Cháu xin hỏi bác sĩ bệnh của cháu phải điều trị như thế nào

Trả lời:

Viêm lợi, viêm quanh răng là nguyên nhân thường gặp của tụt lợi.

Hậu quả của tụt lợi là làm mất men răng và cement chân răng, lộ ngà, ê buốt răng, nếu không được điều trị kịp thời sẽ dẫn đến viêm tủy răng. Mặt khác, tụt lợi ảnh hưởng lớn đến thẩm mỹ.

Để khắc phục tình trạng bệnh của mình, cháu nên chọn loại bàn chải có đầu lông tròn, mềm, khi đánh răng cố gắng đừng tác động đến lợi, nên dùng nước ấm để chải răng.

Nên dùng nước súc miệng chứa chlorhexidin, sodium fluorid, potassium nitrat có tác dụng giảm ê buốt và mòn chân răng.

Tùy theo mức độ tụt lợi mà các bác sĩ có chỉ định biện pháp điều trị khác nhau, có thể là ngậm máng plastic có bôi gel fluorid khi ngủ hoặc hằng ngày, dùng laser kết hợp với fluorid, phủ mặt răng bằng vật liệu composit, phẫu thuật…

Cháu nên đi khám để có được biện pháp điều trị phù hợp. Cũng lưu ý là không ăn các đồ ăn, uống chua, có gas, lạnh, nóng quá mức tránh ê buốt răng nặng hơn.

 

Theo BS. Nguyễn Trọng Lân (Sức khỏe & Đời sống)

Răng khôn hay “dại”?

Nằm phía trong cùng của hàm răng, răng khôn hay còn gọi là răng số 8 là răng mọc cuối cùng của mỗi người. Đây là răng gây nhiều tranh cãi bởi vì chức năng của nó không rõ ràng nhưng những phiền toái mà nó mang lại rất phổ biến.

Trên thực tế, cho đến nay, ngoại trừ các răng khôn mọc lệch hoặc ngầm cần phải nhổ, người ta vẫn chưa biết trước được liệu răng khôn mọc thẳng có gây biến chứng hay không? Một số nha sĩ khuyên nên nhổ bỏ răng khôn dù chiếc răng này chưa gây khó chịu cho bạn. Mặc dù có các quan điểm khác nhau, song bạn cũng cần hiểu rõ những lợi ích hoặc bất lợi có thể xảy ra khi giữ lại hay nhổ bỏ răng khôn.

Vì sao lại phiền toái?

Trong quá trình tiến hóa, xương hàm của con người bé dần, phần lớn chỉ đủ chỗ cho 28 răng, 14 răng hàm trên và 14 răng hàm dưới. Nhưng thực tế, con người có tới 32 răng vì thêm 4 răng khôn, 2 ở hàm trên và 2 ở hàm dưới, mọc sau cùng, thường vào độ tuổi từ 17 – 25. Phiền toái xảy ra khi những chiếc răng mọc sau cùng này không đủ chỗ để mọc theo hướng bình thường mà tự tìm đường khác, ví dụ như mọc ngược về phía xương hàm hoặc đâm thẳng về phía răng số 7… và gây hại cho cả hàm răng.

Quá trình mọc 2 răng khôn hàm trên thường diễn ra bình thường. Riêng 2 răng khôn hàm dưới, do xương hàm dưới hẹp nên rất hay mọc lệch. Nó có thể lệch về phía trước, húc vào răng số 7 hoặc lệch ra má, vào phía dưới, chìm trong xương hàm, có lợi trùm hoặc bị cả xương và lợi che lấp (gọi là răng mọc ngầm). Hoặc là răng khôn cùng chung lá mầm với răng số 7.

Khi mọc, răng số 7 kéo mầm răng số 8 hướng về gần, dễ gây tư thế lệch gần. Khi răng khôn mọc ở tư thế gần, nó sẽ húc vào răng số 7 và gây các tai biến như lợi trùm. Khi ăn uống, vun thức ăn giắt vào túi lợi, gây viêm túi lợi có mủ. Người bệnh bị đau ở vùng răng khôn, vướng, khó nhai, có khi sốt. Nếu viêm lan rộng, bệnh nhân có thể sưng to một bên mặt, vùng lợi ở góc hàm căng đỏ, trên mặt có mủ, rất đau, không há được miệng, không ăn uống được. Nếu không xử lý kịp thời, viêm túi mủ răng khôn có thể chuyển thành viêm phần mềm xung quanh, áp xe hoặc viêm tổ chức liên kết lan tỏa, có thể lan vào xương hàm, gây cốt tủy viêm xương hàm… Đối với những trường hợp nhẹ hơn, vùng răng khôn mọc lệch đầu đau âm ỉ mấy ngày rồi hết.

Nếu răng khôn mọc lệch húc vào răng số 7 gây sâu răng, kẽ răng ở đây bị viêm lâu ngày sẽ gây tiêu xương. Cuối cùng răng số 7 cũng bị viêm tủy, viêm quanh cuống răng và lung lay, phải nhổ bỏ, làm giảm hẳn sức nhai vì số 7 và số 6 là hai răng chủ lực nhai của hàm… (Trong một số trường hợp khi những bất thường của răng khôn không được chữa kịp thời, nhiễm trùng lây lan sang các khu vực xung quanh như mang tai, má, mắt, cổ… gây nguy hiểm đến tính mạng). Do đó, nếu bạn ở độ tuổi 23 – 25 mà răng số 8 mới chỉ nhìn thấy một phần của răng thì gần như chắc chắn là răng khôn của bạn đã mọc lệch.

Có nên giữ lại?

Đây là vấn đề còn gây nhiều tranh cãi trong giới nha sĩ. Nếu răng khôn mọc bình thường thì việc giữ lại những chiếc răng khôn này có lợi. Trước hết là việc còn nguyên hàm răng, giúp cho bạn có bộ răng khỏe và thực hiện được đầy đủ các chức năng. Thứ nữa là bạn không phải trải qua bất cứ cuộc phẫu thuật nào, dù là tiểu phẫu. Và cuối cùng là giúp phục hình răng trong trường hợp mất răng số 7. Chiếc răng khôn mọc thẳng này có thể được dùng làm trụ để phục hình cầu răng của bạn.

Tuy nhiên, nếu chiếc răng khôn xảy ra biến chứng thì sao? Có nên giữ lại? Câu trả lời là không. Các nha sĩ đã chỉ ra rằng, những biến chứng của răng khôn không có lợi cho sức khỏe của bạn. Đó là:

Viêm lợi trùm: Là một nhiễm trùng rất hay gặp trong quá trình mọc răng. Bệnh biểu hiện bởi hiện tượng viêm tấy nướu quanh bề mặt răng khôn, đôi khi kèm theo sốt và đau vùng góc hàm. Trường hợp nặng hơn có thể dẫn đến viêm các tổ chức liên kết gây sưng mặt. Để giải quyết, một số nha sĩ khuyên chỉ nên cắt lợi trùm, tuy nhiên viêm lợi trùm thường tái phát sau cắt.

Viêm nha chu: Rất thường xảy ra trên các răng khôn, gây ảnh hưởng đến xương ổ răng và nướu vùng răng khôn. Nếu đo túi nha chu vùng này, thường phát hiện túi sâu thêm 5mm, nhất là ở bệnh nhân vệ sinh răng miệng kém.

Răng mọc chen chúc: Thường gặp khi các răng khôn mọc kẹt đẩy các răng nằm phía trước. Một răng khôn mọc kẹt cũng có thể xô đẩy 2 răng cối lớn, 2 răng cối nhỏ và 1 răng nanh, để cuối cùng gây nên sự chen chúc ở các răng cửa. Để ngăn ngừa, việc nhổ bỏ răng khôn là cần thiết.

Làm hư các răng khác: Răng khôn mọc kẹt có thể làm hư các răng nằm phía trước nó. Việc mọc kẹt tạo điều kiện cho sự nhồi nhét thức ăn ở mặt xa răng số 7 và dẫn đến trường hợp hiếm hơn, các răng khôn mọc kẹt có thể gây tiêu chân răng xa ở các răng kế cận.

Viêm mô tế bào: Là biến chứng khá nặng với các biểu hiện như: má bị phồng lên, da căng, màu bình thường hay hơi đỏ, sờ vào đau. Người bệnh đau nhức dữ dội, nhai khó, há miệng khó, có khi cứng hàm hoàn toàn. Có thể nóng sốt, mệt mỏi, không ăn ngủ được, nếu không điều trị hoặc điều trị không đúng, mủ sẽ thoát ra qua lỗ rò trong miệng hoặc ra ngoài da.

U nguyên bào men: Trường hợp này khá hiếm gặp và việc điều trị thường là phải cắt đoạn xương hàm.

Những ảnh hưởng của răng khôn

Sâu răng: Do răng khôn ở trong cùng của hàm nên rất khó vệ sinh, thức ăn và vi khuẩn dễ dàng tích tụ, đặc biệt là ở những răng chỉ mọc lên được một phần hoặc mọc lệch, đâm vào răng bên cạnh. Sự tích tụ này lâu ngày gây sâu răng. Đau đớn và nhiễm trùng có thể xảy ra.

Viêm lợi: Sự tích tụ của thức ăn và vi khuẩn ở răng khôn gây ra viêm nhiễm trùng lợi xung quanh, dẫn đến triệu chứng: sưng, đau, hôi miệng và đôi khi cứng hàm (bệnh nhân không thể mở miệng to được). Bệnh viêm lợi này tái phát nhiều lần chưa được chữa trị, và những lần tái phát sau mức độ nguy hiểm càng cao.

Hủy hoại xương và răng xung quanh: Khi răng khôn mọc đâm sang răng bên cạnh, nó sẽ làm răng đó bị tiêu hủy, lung lay, nhiều khi gây sâu răng, và cuối cùng là rụng răng. Triệu chứng sớm của việc mọc lệch này là những cơn đau âm ỉ ở khu vực đó.

Phòng bệnh ngay từ nhỏ

Theo bác sĩ Nguyễn Văn Hải, nha khoa Hà Nội (316 Lạch Tray, Hải Phòng), các mầm răng khôn xuất hiện lúc khoảng 5 tuổi và lớp men răng được tạo thành từ lúc 8 tuổi cho đến 12 tuổi, bắt đầu mọc nhú lên lúc 16 tuổi cho đến khi 21 tuổi. Một chiếc răng khôn có hình dạng cuối cùng, có rễ hẳn hoi ít nhất là khi đã đến tuổi 25 hoặc muộn hơn.

Để tránh những biến chứng do răng khôn mọc lệch, bạn nên chú ý đến răng của trẻ, dự đoán sớm nhất những chênh lệch về vị trí của răng khôn. Ngay từ khi trẻ mọc những chiếc răng đầu tiên được 6 tháng, hãy cho trẻ làm quen với nha sĩ và có các cuộc khám định kỳ và thường xuyên. Khi trẻ được 14 – 15 tuổi, tức là trước khi răng khôn nhô ra khỏi lợi, bạn nên đưa trẻ đi khám và chụp Xquang hàm răng để phát hiện mầm răng.

Răng khôn ở trạng thái mầm không có chân, trông giống như những viên bi nhỏ. Quan sát phim chụp, nha sĩ ước lượng được vị trí răng sẽ mọc. Nếu chiếc răng khôn tương lai có thể làm xiên xẹo hàm răng, nha sĩ sẽ gắp bỏ mầm răng. Đây là một thủ thuật nhỏ, dễ thực hiện vì răng chưa có chân. Sau khi gây tê tại chỗ, nha sĩ sẽ rạch một đường nhỏ, lấy ra mầm của 2 răng khôn đối nhau (ở hàm trên và hàm dưới) nhằm tránh những vấn đề về khớp cắn khi chiếc răng kia mọc.

Tuy nhiên, cũng có một số tai biến có thể xảy ra khi nhổ răng khôn như:

Viêm ổ răng khôn: Là biến chứng thường gặp nhất, xảy ra nhiều ở người bệnh lớn tuổi, nữ dễ bị hơn nam.

Sưng mặt: Rất thường xảy ra, nhất là trong các trường hợp tiểu phẫn răng khôn mọc kẹt hoặc ngầm có khoan xương. Hiện tượng này sẽ giảm dần nếu người bệnh tuân thủ đúng hướng dẫn chăm sóc hậu phẫu của nha sĩ. Ngoài ra, sau khi nhổ răng khôn người bệnh cảm thấy khó mở miệng. Đó là phản xạ bảo vệ vết thương và không đáng lo ngại, chỉ sau một thời gian ngắn sẽ hết.

Một lời khuyên là, sau khi nhổ răng khôn, người bệnh nên chờ ít nhất là 1 giờ mới súc miệng để cho các mạch máu tại vết thương được bịt kín lại, tránh tình trạng xuất huyết trong miệng.

 

(Theo Tiêu dùng)

Đánh răng cũng phải đúng cách

Đánh răng là một trong những biện pháp chăm sóc và bảo vệ răng hữu hiệu. Nhưng không phải ai cũng nắm được phương pháp răng khoa học.

1. Khi nào bắt đầu đánh răng?

Nhiều bà mẹ trẻ cứ nghĩ rằng khi nào răng của con bắt đầu mọc mới cần chải răng. Nhưng thực ra, bạn nên chải răng cho bé ngay từ lúc lọt lòng. Bắt đầu là với khăn xô mềm, khi có răng chuyển sang bàn chải cao su nhiều ngấn mềm và chuyển sang bàn chải nhựa khi bé có 4-5 răng. Đây là quá trình tạo phản xạ cho bé về việc chải răng sau khi ăn và vào lúc ngủ dậy hay trước khi đi ngủ. Đồng thời là cách kích thích nướu, lợi của bé phát triển.

2. Chọn bàn chải kiểu dáng đơn giản và thon nhỏ

Trên thị trường có rất nhiều loại bàn chải đánh răng, được sản xuất theo cả thị hiếu của người tiêu dùng về kiểu dáng, màu sắc. Nhưng bạn nên chọn kiểu dáng đơn giản và thon nhỏ với đầu bàn chải khoảng 2,5 cm là vừa với người trưởng thành. Nhựa trong, không mấp mô ở thân bàn chải giữ cho bàn chải luôn sạch sẽ. Lòng bàn chải bằng nilon cứng tốt hơn là sợi tự nhiên vì nó dễ vệ sinh, hợp vệ sinh và bảo quản tốt hơn.

3. Thời gian mỗi lần đánh răng

Thường kéo dài từ 2-3 phút, đủ cho bạn chải khắp hàm răng, các mặt răng, đủ cho kem đánh răng làm sạch hàm răng của bạn.

4. Chải răng đúng cách

Không cần dùng lực mạnh khi đánh răng. Chải răng theo vòng tròn là cách không tổn hại men răng và lấy sạch chất giắt răng nhất. Chải cả mặt nhai và mặt trong của răng để hạn chế mảng bám ở những vùng này.

5. Mấy lần một ngày là đủ

Một lần khi thức dậy, một lần trước khi đi ngủ và sau các bữa ăn. Chải kỹ răng trước khi đi ngủ là quan trọng nhất vì khi ngủ nước bọt tiết ra rất ít, miệng khô và hạn chế khả năng tự làm sạch. Nếu không đánh răng trước khi đi ngủ thì có thể còn một số thức ăn giắt răng, thời gian lưu trong miệng quá lâu, đủ để vi khuẩn phát triển và gây hại cho răng.

6. Bao lâu phải thay bàn chải

Sau 4-8 tuần lông bàn chải sẽ bị mềm đi, tòe và mòn bớt. Lúc này, khi chải răng, lông bàn chải dễ làm tổn thương lợi, không đủ cứng để làm sạch ở các kỹ chân răng. Đó cũng là khoảng thời gian hình thành các mảng bám bẩn ở cán bàn chải, nhất là các loại cán có trang trí cao su mềm. Cần phải thay bàn chải thôi.

7. Các loại kem đánh răng

Thành phần chính của mọi loại kem đánh răng đều có chất flour để đánh tan mảng bám và củng cố độ chắc cho răng. Ngoài ra còn có xà phòng, chất làm sạch và các hương liệu. Vì vậy, nhất định phải chải kỹ và xúc miệng bằng nước sạch để đảm bảo sạch kem đánh răng. Soda và nước muối sinh lý là 2 loại kem đanh răng vừa đảm bảo làm sạch lại rất an toàn với răng. Không nên dùng các chất chua như chanh để tẩy trắng răng vì nó sẽ làm hỏng lớp men răng và ăn mòn dần vào răng.

8. Thói quen dùng tăm

Dùng tăm để làm sạch các kẽ chân răng không có hại nếu bạn không làm tổn thương nướu, lợi. Nhưng nó vẫn tạo ra những lỗ hổng lớn dần lên ở các chân răng làm cho thức ăn giắt vào răng ngày càng nhiều thêm. Tốt nhất là chỉ dùng tăm để gẩy sạch thức ăn ở kẽ răng rồi đi đánh răng sau mỗi bữa ăn.

9. Chỉ tơ nha khoa

Là cách làm sạch tuyệt đối các kẽ răng và 2 mặt răng tiếp xúc với nhau. Tuy nhiên, nếu không quen dùng, bạn dễ làm tổn thương lợi. Và rất khó khi dùng chỉ tơ làm sạch các kẽ răng hàm. Tốt nhất là học cách làm sạch răng ở vị trí ngoài và tiến dần vào bên trong. Không nên cố dùng chỉ nha khoa với các răng hàm bên trong, dễ bị xước chỉ và giắt lại giữa hai răng, thậm chí không thể lấy ra ngay được.

10. Nước xúc miệng

Cần phải được giữ lại trong miệng đủ 30 giây để làm sạch. Nhưng đây không phải là giải pháp đơn giản thay cho đánh răng mà là sự hỗ trợ hiệu quả sau khi chải sạch răng bằng bàn chải.

11. Xylitol

Là chất ngọt tự nhiên không bị phân hủy bởi vi khuẩn tạo môi trường axit trong miệng, giúp cân bằng và nâng cao độ kiềm khoang miệng, bảo vệ men răng hiệu quả. Xylitol tăng cường tái tạo canxi, giảm mảng bám răng, giúp việc vệ sinh răng trở nên dễ dàng hơn. Người ta đã ứng dụng chất này vào kem đánh răng, nước xúc miệng và kẹo cao su.

Theo Dân Trí

Cùng bé đánh răng

 

Từ ngày giao cho chồng việc giúp con trai 2 tuổi rưỡi đánh răng, chị Tâm thấy bé Bi thích đánh răng hẳn lên. Trước khi đi ngủ, phòng vệ sinh vọng ra tiếng cười và những tiếng “i i, a a” nghe rất lạ tai…

Tò mò nhìn vào, chị thấy chồng đang bảo con: “Bi nói “i” đi!”. Bé Bi nhe răng ra “i i” một tràng, thế là bố đánh được răng cửa. “Xong rồi, giỏi lắm, nói “a” đi nào!”, và việc đánh răng hàm hoàn thành một cánh chóng vánh. Read more »

Bài thuốc “bí truyền” chữa đau răng

Đau răng tuy không nguy hiểm, những rõ ràng khi phải chịu đựng cảm giác đau răng thì không dễ chịu chút nào. Bài thuốc đơn giản và hiệu nghiệm sau đây sẽ giúp bạn nhanh chóng loại bỏ cảm giác đau răng.

Không tự nhiên mà đau

Đau răng thường là do các dây thần kinh ở chân răng bị sưng tấy hay nhiễm trùng.

Mỗi chiếc răng đều có phần lợi (nướu) bao xung quanh, vì một lý do nào đó vùng lợi này sưng tấy hoặc viêm nhiễm cũng khiến bạn phải chịu đựng cảm giác đau đớn.

Nhưng phổ biến nhất đau răng chủ yếu do sâu răng gây nên. Sâu răng có thể xảy ra với bất cứ ai, với bất cứ đối tượng nào nếu không tuân thủ nghiêm ngặt các cách vệ sinh răng miệng hay chế độ ăn uống không khoa học.

Nguyên nhân phổ biến dẫn đến đau răng:

– Sâu răng

– Sưng phồng hay viêm nhiễm nướu (lợi)

– Do việc uống quá nhiều các loại nước giải khát có đường

– Do sự phá hủy của cacbonhydrat và đường

– Ăn uống không khoa học

– Do viêm nhiễm răng

– Do sự nứt hay vỡ răng

Cách điều trị đơn giản

– Ngâm một nhánh tỏi trong một chén nước muối, sau đó dùng bông gòn thấm vào chỗ răng đau.

– Lấy một nhánh hành sống, giã nhuyễn đặt vào trong miệng chỗ bị đau.

– Lấy lá cam, sao khô tán nhuyễn rịt vào vùng răng bị đau.

– Dùng lá của cây lúa mì ép lấy nước và súc miệng.

– Nhai vỏ của cây đinh hương và rịt vào chỗ răng đau, thậm chí bạn có thể dùng dầu của cây đinh hương cũng có thể cải thiện tình hình.

 

Theo Tuổi Trẻ

Gắn đá vào răng – chịu chơi nên phải chịu khổ

Hàm răng trắng, đều đặn chưa đủ. Muốn được dân chơi vị nể, bạn phải gắn thêm những viên đá nhiều màu hay kim cương. Nhưng theo các bác sĩ, mốt mới này làm cho bộ máy tiêu hóa hoạt động kém đi

Thông thường, công đoạn để gắn đá hoặc kim cương vào răng được tiến hành theo một quy trình nhất định. Đầu tiên, sau khi tiêm thuốc gây tê, bác sĩ sẽ khoan một hoặc vài lỗ nhỏ trên răng bằng đường kính của viên đá (tùy theo nhu cầu gắn một viên đá hay nhiều viên thành hình hoa). Sau khoảng 3-5 phút, bác sĩ chiếu đèn halogen, và phun một loại keo nha khoa để gắn chặt viên đá vào răng.

Nhưng một số bạn trẻ hiện nay thường đắp thêm một lớp sứ tạo răng khểnh giả hoặc bọc răng lại rồi mới gắn đá. Các loại đá gắn vào răng có nguồn gốc Thái Lan hoặc Mỹ, thường có màu tím nhạt, đỏ, hồng, xanh mắt mèo, trắng với giá từ 50.000 đến 100.000 đồng/viên. Nếu chịu chơi hơn, bạn có thể dùng những viên kim cương có kích thước 2-3 ly, giá khoảng 600.000 – 900.000 đồng/viên.

Theo lời chị Hồng Vân, giám đốc một trung tâm dạy nghề và trang điểm, thẩm mỹ, việc gắn kim cương, đá quý vào răng phụ thuộc vào nhiều kiểu răng và hầu bao của khách hàng.

Đa phần khách hàng chọn giải pháp mua đá tại các tiệm vàng, rồi đến các trung tâm thẩm mỹ gắn đá lên răng với chi phí khoảng 100.000 đồng/lần, giảm hơn nhiều khi gắn đá vào răng tại các cơ sở có uy tín. Nhiều người trong số họ trở thành “khổ chủ” với những chiếc răng hoạt động không theo ý muốn của mình.

Bác sĩ Thanh Hà, Phó trưởng khoa Phục hình Bệnh viện Răng hàm mặt Hà Nội, cho biết việc gắn đá vào răng cũng có tác động nhất định đến bộ nhai. Đây là một công việc đòi hỏi chuyên môn cao cộng với trang thiết bị hiện đại. Nếu một nha sĩ có kỹ thuật tốt thì việc gắn đá vào răng gần như không ảnh hưởng đến sức khỏe. Song hiện nay ở nhiều cơ sở, nhân viên không được đào tạo cơ bản, thiếu chuyên môn và trang thiết bị máy móc nên chất lượng gắn đá vào răng không bảo đảm.

Nhiều trường hợp gắn đá vào răng “cười” chưa đủ một tuần đã có vấn đề như: không ăn được thức ăn cứng, đến lúc đánh răng thì “đá đi còn răng ở lại”. Nếu không tiếp tục đi gắn đá lại, lâu ngày thức ăn rơi vào vết khoan, ứ đọng và gây sâu răng. Ngoài ra, với những người răng yếu, việc mài, giũa để gắn đá có thể gây tê buốt mỗi khi ăn đồ nóng hoặc lạnh.

Đắp răng khểnh trước khi gắn đá cũng là một sai lầm. Xét về vị trí, chiếc răng này không khớp với hàm, làm cho thức ăn giắt vào kẽ răng hoặc đôi khi cắn vào môi, gây khó khăn trong việc ăn uống.

Gắn đá vào răng cũng khiến cho việc ăn uống trở nên không thoải mái vì sợ thức ăn giắt vào xung quanh đá, sợ rơi đá… dẫn đến không ngon miệng, tiêu hóa kém.

Bác sĩ Thanh Hà cũng cho biết, người gắn đá lên răng phải luôn tuân thủ nguyên tắc kiêng những món ăn quá cứng như xương, kiêng uống cà phê, các loại rượu màu. Khi đánh răng, phải thận trọng không để va chạm mạnh. Tuổi thọ đá gắn vào răng chỉ kéo dài trong vài năm, tùy thuộc vào sự giữ gìn của mỗi cá nhân.

 

Theo Sức Khỏe và Đời Sống

Răng lệch lạc, chữa thế nào?

 

Có những người mất tự tin vì răng không đẹp, bị các dị tật về răng. Họ rất mong mỏi chỉnh sửa răng cho đẹp hơn, trả răng về đúng “trật tự”. Với sự tiến bộ của chuyên ngành răng hàm mặt, điều này thực hiện không mấy khó khăn.

Mất tự tin vì răng xấu

Một ngày ở khoa nắn chỉnh răng có rất nhiều trường hợp đến khám và điều trị bệnh. Người bị vẩu, người răng khấp khểnh, người răng mọc sai vị trí. Điểm chung của mọi người khi đến đây là… hạn chế cười vì ngại.

Theo ThS. Hoàng Thị Bạch Dương, Phó khoa Nắn chỉnh răng, Viện Răng hàm mặt Quốc gia, những trường hợp đến nắn chỉnh răng tại khoa phổ biến trong độ tuổi từ 10-25. Các trường hợp đến khám nhiều nhất là răng xoay, răng khấp khểnh chật chỗ, răng vẩu, răng bị ngược (nhân dân gọi là răng móm), bệnh nhân có khe hở môi vòm miệng (sứt môi hở hàm ếch), răng mọc ngầm, răng lạc chỗ, thay đổi chỗ, răng thưa. Bệnh nhân đến phần lớn vì nhu cầu thẩm mỹ, nhưng trong quá trình chỉnh sửa, các bác sĩ sẽ vừa lưu ý đến mặt thẩm mỹ, vừa bảo đảm chức năng cho răng.

Nguyên nhân bị bệnh và cách điều trị

ThS. Bạch Dương cho biết, có thể bị bệnh do nhiều nguyên nhân như di truyền, do sự mất cân xứng về kích thước giữa răng và hàm, các bệnh khiếm khuyết do sứt môi hở hàm ếch, do thói quen xấu như mút ngón tay, cắn môi, mút môi, trẻ bú bằng núm vú cao su trong thời gian dài, trẻ bị sâu răng sữa nhưng không điều trị.

Bệnh nhân muốn điều trị bệnh thì phải đến các cơ sở y tế chuyên khoa về răng hàm mặt. Các bác sĩ sẽ khám, chụp phim, lấy mẫu in dấu răng hai hàm. Tùy loại bệnh, các bác sĩ sẽ sử dụng các dụng cụ điều trị như chỉnh lực ngoài miệng, hàm chống thói quen xấu, hàm tháo lắp hoặc hàm gắn chặt để điều chỉnh răng cho bệnh nhân. Điểm chung của các dụng cụ điều chỉnh răng là có phần nhựa, các dây tạo lực và chốt gắn vào răng.

Thời gian điều trị chia làm hai thời kỳ. Thời kỳ thứ nhất từ 1-2,5 năm, thời kỳ thứ 2 là đeo hàm giữ kết quả trong khoảng thời gian từ 6 tháng đến 1 năm. Trong một số trường hợp đặc biệt, thời gian điều trị có thể trải qua nhiều giai đoạn, kéo dài và cần sự hợp tác của các chuyên ngành khác về răng như nha chu, phẫu thuật, tạo răng giả.

Sau khi gắn hàm, bệnh nhân cần tuyệt đối tuân thủ sự hướng dẫn của bác sĩ cả về vệ sinh, ăn uống và tái khám. Trong thực tế, có nhiều bệnh nhân làm trái ngược hẳn với sự hướng dẫn của bác sĩ. Ví dụ bệnh nhân sử dụng hàm tháo lắp thì tuyệt đối không được tháo bỏ tùy tiện. Nhưng thời gian đầu mới lắp, bệnh nhân thường gặp vướng víu và khó khăn trong ăn uống nên nhiều người đã tự động tháo ra lắp vào.

ThS. Dương hướng dẫn các bệnh nhân, giống như mình đun một ấm nước, nếu cứ để lửa cháy nhỏ thì không bao giờ có ấm nước sôi, gắn hàm chỉnh răng cũng vậy. Nếu tháo lắp hàm không đúng hướng dẫn sẽ không tạo được lực để điều chỉnh răng. Đã có những trường hợp bị xê dịch hàm hoặc làm cho răng xấu hơn cả trước khi điều trị.

Cần tránh những quan niệm sai lầm

Thứ nhất là nên nắn chỉnh răng đúng các địa chỉ có chuyên khoa răng hàm mặt, tránh điều trị ở những nơi không có bác sĩ chuyên khoa. Có bệnh nhân nắn răng không theo đúng quy trình nên răng bị rụng, bị tiêu nhiều xương, có người lệch cả hàm. Bệnh nhân càng được nắn chỉnh sớm càng tốt, ngay cả khi chưa cần mọc hết răng, nhất là đối với các trường hợp sứt môi hở hàm ếch.

Bên cạnh đó, có những trường hợp cần phải nhổ bớt răng khi nắn chỉnh để “trả lại không gian” cho các răng khác, nhưng bệnh nhân nằng nặc từ chối vì sợ nhổ răng sẽ ảnh hưởng sức khỏe. Theo ThS. Dương, đây là điều hết sức bình thường, không có gì đáng lo ngại.

Và cuối cùng là lưu ý cho các bà mẹ có con nhỏ. Nhiều người quan niệm răng sữa sâu không ảnh hưởng gì đến hàm răng sau này của bé. Quan niệm này rất nguy hại, bởi vì mỗi người đều có 2 loại răng, một loại răng sữa và một loại răng vĩnh viễn. Răng vĩnh viễn nằm dưới răng sữa. Chính vì vậy, khi răng sữa bị sâu sẽ ảnh hưởng đến hàm răng vĩnh viễn. Nếu răng sữa bị nhổ quá sớm, hàm răng vĩnh viễn không có gì để định hướng sẽ mọc không theo trật tự và có trường hợp còn bị tiêu xương răng.

Nhìn chung, để phòng răng mọc “mất trật tự”, việc giữ gìn vệ sinh răng miệng sạch sẽ vẫn là yếu tố quyết định. Bạn nên kiểm tra răng miệng một năm 2 lần. Nếu phát hiện bị các bệnh liên quan đến răng cần điều trị ngay để tránh các biến chứng. Nhiều biến chứng dẫn đến xô lệch hàm răng, phải điều trị rất tốn kém.

Theo MINH THU -Báo Sức khoẻ & đời sống

Cách chăm sóc trẻ mọc răng

Chảy nhiều nước dãi, biếng ăn, quấy khóc, khó ngủ, sốt nhẹ, lợi sưng đỏ, tiêu chảy… là những phiền toái thường gặp khi bé mọc răng. Việc chăm sóc lúc này cần tỉ mỉ hơn ngày thường.

Thường trẻ bắt đầu mọc răng sữa từ tháng thứ 6, nhưng cũng có thể sớm hơn hoặc muộn hơn.

Trước khi răng nhú lên, bạn sẽ thấy lợi của bé đỏ và sưng to, kèm theo sốt nhẹ. Do bị đau và khó chịu, bé hay quấy khóc và lười ăn, thậm chí sút cân. Vì vậy, bạn nên vỗ về bé, thay đổi chế độ ăn bằng bột, sữa hoặc cháo loãng.

Nếu bé sốt trên 38, 5 độ, bạn có thể cho uống thuốc hạ sốt theo chỉ dẫn.

Bé cũng có thể đi ngoài phân nhão, sệt 3-4 lần/ngày, trong vòng khoảng 3-7 ngày. Nếu bé đi ngoài phân sệt nhiều lần nhưng lượng phân và nước ra ít thì không cần bù nước, cứ cho ăn uống bình thường. Nếu phân nhiều nước hoặc bé đi quá nhiều lần thì nên đưa đến bác sĩ.

 

Giữ vệ sinh răng miệng tốt cho bé: Sau khi ăn, nên cho uống một ít nước lọc để súc miệng, rồi lau răng bằng khăn mềm; hoặc đánh răng cho bé. Nên làm thường xuyên nhiều lần trong ngày.

Bé có thể ngứa lợi, thích gặm nhấm, cắn các vật rắn. Do đó bạn nên chọn loại đồ chơi bằng chất liệu mềm, có hình tròn. Những đồ chơi vuông thành sắc cạnh rất nguy hiểm vì dễ làm tổn thương lợi và ảnh hưởng không tốt đến quá trình mọc răng của trẻ. Tốt nhất bạn hãy thay thế đồ chơi hàng ngày của bé bằng những miếng lê, táo hay cà rốt nhỏ.

Hãy mang bé đến bác sĩ nếu tình trạng quấy khóc, không chịu ăn kéo dài trong một tuần lễ, có nguy cơ gây chậm tăng cân, sụt cân. Nếu bé chỉ ăn ít trong vài ngày thì có thể không cần đi khám.

Nếu trẻ được 12 tháng mà chưa thấy răng nào mọc thì phải coi là bất thường do thiếu dinh dưỡng, còi xương. Cần cho trẻ ăn nhiều chất đạm, uống vitamin, đặc biệt là vitamin D.

Lưu ý: Các triệu chứng khi trẻ mọc răng không bao giờ gồm sốt cao, ho, nôn mửa, tiêu chảy kéo dài. Đó là triệu chứng của bệnh khác, vì vậy bạn cần đưa trẻ đi khám ngay.

 
(Theo Sức Khỏe & Đời Sống)