Khi điều trị răng nhiễm Tetracycline có cần phải chữa tủy không?

Đối với một chiếc răng thông thường, bên trong vỏ ngoài cứng của răng có một vùng đặc biệt được gọi là tủy hay buồng chứa dây thần kinh. Buồng tủy chứa một hệ thống các mạch máu, mạch bạch huyết và dây thần kinh (cũng gọi là tủy) được dẫn từ xương thông qua các ống chân răng vào buồng. Hệ thống này cung cấp chất dinh dưỡng cho các tế bào trong răng.

Nếu răng bị chấn thương, sâu răng gây viêm tủy hay răng cần điều chỉnh nhiều (trong trường hợp để phục hình sứ với những răng cần đưa ra hay vô nhiều) thì có thể răng cần phải chữa tủy – lấy gân máu. Sau khi chữa tủy, răng sẽ không còn được cung cấp dinh dưỡng như trước và răng sẽ ngày càng trở nên dòn, dễ mẻ, vỡ…

Nếu hình dung để dễ hiểu bạn có thể so sánh độ bền dẻo giữa một cây đang sống (xanh tươi) với một cây gỗ (cây đã chết ). Có thể thời gian đầu mức độ chịu lực, dẻo dai không chênh lệch đáng kể nhưng sẽ có sự thay đổi lớn sau 5 – 10 năm. Răng sống (răng còn tủy) và răng chết (răng đã chữa tủy) cũng tương tự như vậy. Điều cần lưu ý là một chiếc răng sống của bạn có thể sử dụng và tồn tại suốt đời bạn nếu được chăm sóc đúng cách. Đối với răng đã lấy tủy thì độ bền chỉ trong vòng từ 15 – 25 năm. Càng về sau, răng càng dòn và dễ bị mẻ, vỡ …đôi khi gãy ngang.

Do đó, bạn cần cân nhắc kỹ lưỡng trước khi quyết định cho phép Bác sĩ chuyên khoa nha khoa điều trị tủy răng hay không.

Với trường hợp phục hình tetracycline, với những Nha khoa và Bác sĩ có nhiều kinh nghiệm, quan tâm thật sự tới lợi ích lâu dài của Khách hàng điều trị thì sẽ tiến hành phục hình trên quan điểm bảo tồn tủy răng tối đa. Dù việc bảo tồn này làm cho việc điều trị cần phải kỹ lưỡng hơn, chăm chút và tốn nhiều thời gian, công sức hơn.

Ngoài ra, trong một số trường hợp sau khi điều trị xong (bọc răng sứ) sau vài hôm, có thể sẽ có một vài răng bị viêm tủy cần chữa trên tổng số từ 16 – 20 răng đã phục hình sứ. Lúc này Bác sĩ sẽ chỉ tiến hành lấy tủy chính răng đó mà không ảnh hưởng đến thẩm mỹ và độ bền của phục hình.

Do đó, nếu có điều này xảy ra thì bạn cũng đừng quá lo lắng bởi đây vẫn là giải pháp tốt và lâu dài cho sức khỏe của chính bạn.

Trong thời gian làm răng, tôi có thể đi giao tiếp được không?

Đối với việc điều trị răng nhiễm Tetracycline, trong thời gian làm răng (thông thường từ 5 – 10 ngày) Nha khoa sẽ làm cho Bạn một hàm răng tạm bằng nhựa, với hàm tạm này bạn có thể đi làm, giao tiếp như bình thường và công việc của bạn không bị gián đoạn.

Tuy nhiên, vì chỉ là hàm tạm thời nên mức độ tự nhiên, thẩm mỹ và chức năng ăn nhai của hàm răng tạm của bạn lúc này chỉ đạt từ 60 – 80 % so với răng thông thường.

Bù lại sau khi điều trị nha khoa, bạn sẽ có một hàm răng mới trắng đẹp tự nhiên và sẽ giúp bạn tự tin, vui vẻ, thoải mái hơn nhiều so với trước đây.

Thời gian điều trị một ca răng nhiễm trong bao lâu?

Thời gian thực hiện phục hình sứ cho răng nhiễm Tetracycline phụ thuộc vào tình trạng răng miệng, số lượng răng, vị trí răng cần phục hình cũng như chủng loại sứ mà bạn lựa chọn. Tuy nhiên có thể dự đoán tương đối chính xác thời gian hoàn thành như sau:

  1. Phục hình răng nhiễm Tetracycline: số răng thường làm từ 6 – 10 răng/hàm.

    + Làm một hàm (từ 6 – 12 răng) : 3 – 5 ngày.

    + Làm hai hàm (từ 12 – 24 răng): 5 – 8 ngày.

  2. Điều trị tủy răng – lấy gân máu (nếu có): Thêm từ 1 – 3 ngày.

     

=> Khi có điều trị tủy răng – lấy gân máu + phục hình, tổng thời gian điều trị có thể sẽ là: Thời gian chữa tủy + Thời gian phục hình. (Thông thường khi kết hợp cùng một lúc thì thời gian điều trị sẽ rút ngắn đi.)

Tuy nhiên khi lên kế hoạch làm răng, Bạn nên dự phòng từ 1 – 2 ngày, thậm chí  3 – 4 ngày đối với trường hợp làm nhiều răng để Bác sĩ có thời gian theo dõi, chỉnh sửa phục hình sau vài hôm ăn nhai thử.

Điều trị răng nhiễm Tetracycline có đau không?

Trong chúng ta nói chung, không một ai muốn bị đau nhất là đau khi làm răng. Và chúng tôi cũng gặp không ít trường hợp vì sợ đau mà nhiều khách hàng ngại đến nha khoa, đành chấp nhận một hàm răng chưa được thiện cảm và mang lại sự tự tin cần thiết cho chủ nhân khi cười.

 

Hiểu rõ điều đó nên Nha Khoa  về mặt lâm sàng có trang bị nhiều máy móc mới, hiện đại … như X.Quang tại chỗ, tay mài – chỉnh răng cao tốc – Hight Speed – với bạc đạn bằng gốm sứ siêu bền, vốn là những phát minh cao cấp dành cho công nghệ vũ trụ của NASA… cùng với sự khéo léo của Bác Sĩ chuyên khoa, âm nhạc nhẹ nhàng… sẽ giúp cho việc điều trị răng miệng trở nên nhẹ nhàng, dễ chịu hơn rất nhiều so với trước đây. (Nếu quý khách đã từng trải qua các lần làm răng trước đây).

Chụp X.Quang là gì? Có nguy hiểm không?

Trong những trường hợp cần thiết, Bác sĩ có thể sẽ yêu cầu bạn chụp phim X-quang kiểm tra.

Phim X-quang giúp cho Bác sĩ tìm ra và chẩn đoán bệnh mà với cách khám thông thường Bác sĩ không thể nhìn thấy được. Ngoài ra phim X-quang còn giúp thấy được các dấu hiệu sớm của bệnh để tiến hành điều trị trước khi bệnh trở nên trầm trọng hơn.

Vấn đề chụp X.Quang là cần thiết và quá trình thực hiện rất nhẹ nhàng.

 

Máy chụp X.Quang tại chỗ – Một phim mới chụp

 

Đối với việc chụp X.Quang Panorex và CT Scan, vốn là hình thức X.Quang chuyên dụng, lượng tia X nhiều, nên để đảm bảo an toàn thì các khách hàng sẽ được hướng dẫn, đưa đến X.Quang… tại các Bệnh Viện lớn như Medic Hoà Hảo, Chợ Rẫy … Đặc biệt đối với phụ nữ mang thai nên thông báo cho nhân viên chuyên trách khi cần chụp X.Quang dạng này bởi lượng tia X lớn thì không tốt cho bào thai và cần có các thiết bị hỗ trợ chuyên dụng như áo chì,…

 

 

 

Máy chụp Panorama – Phim chụp bởi Panorama

 

 

 

Máy chụp CT – Phim chụp CT vùng hàm..

 

Phim X-quang (phim quanh chóp răng) cho phép thấy được

Sâu kẽ răng, sâu dưới nướu, sâu tái phát dưới miếng trám cũ

Sự tiêu xương, hình dạng xương nâng đỡ răng

Răng ngầm dưới nướu (ví dụ răng khôn ngầm)

Hình dạng chân răng (cần khi điều trị nha chu)

Nhiễm trùng chân răng

Vết nứt răng

 

* Loại phim thường sử dụng trong Nha khoa

 

+ Phim quanh chóp: phim nhỏ, cho phép thấy một hoặc vài răng và các cấu trúc quanh răng

Phim quanh chóp là loại phim phổ biến nhất trong nha khoa, giá thành thấp

 

+ Phim toàn cảnh (Panorama, CT): phim lớn, cho phép thấy toàn bộ hai hàm răng và một số cấu trúc lân cận.

Phim toàn cảnh chỉ được Bác sĩ chỉ định trong một số trường hợp đặc biệt.

 

*Chụp X.Quang có nguy hiểm không?

 

Chụp X quang không nguy hiểm và an toàn.

Khi bạn được chụp X-quang, bạn luôn được bảo vệ bởi sự kiểm soát kỹ lưỡng 3 yếu tố sau Sử dụng máy chụp phim có cường độ chụp thấp, thời gian chụp ngắn, phim tốc độ cao giúp hạn chế tối đa sự nhiễm tia. Đầu đèn của máy chỉ hướng chùm tia vào vùng răng cần chụp. Phòng chụp phim với các vách chì, áo chì giúp hấp thu các tia tán xạ. Các trợ thủ Nha khoa được huấn luyện và thao tác về kỹ thuật chụp phim tốt.

 

Chú ý : Phụ nữ có thai khi chụp X-quang cần cân nhắc cẩn thận, nên mặc áo chì bảo vệ khi chụp.

Răng và mô quanh răng

Tìm hiểu cấu tạo của răng và các mô nâng đỡ răng sẽ giúp chúng ta có một cái nhìn tổng quan về răng cùng những yếu tố có ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp đến sức khỏe răng miệng.

Men răng: là một lớp rất cứng bao bọc bên ngoài răng. Lớp men răng dày khoảng 1-2mm trơn láng, màu sáng, hơi trong và là mô cứng nhất cơ thể.

Men răng góp phần vào việc tạo màu răng và là thành phần chịu lực quan trọng trong chức năng ăn nhai.

 

 

 

Ngà răng: là một lớp cứng, nằm dưới lớp men, dày, tạo nên hình dạng chủ yếu của răng. Trong ngà răng có rất nhiều ống ngà rất nhỏ chứa đựng các tế bào ngà, tạo cảm giác cho răng khi ăn những thực phẩm nóng lạnh chua ngọt.

 

 

 

Tuỷ răng: là phần trung tâm của răng, và là một mô sống. Vì chứa đựng các mạch máu nuôi dưới răng và thần kinh cảm giác cho răng. Tuỷ răng gồm có hai phần: là tuỷ thân răng (buồng tuỷ) và tuỷ chân răng.

Chóp chân răng: là phần tận cùng của chân răng, nơi các mạch máu và thần kinh đi vào từ vùng xương quanh chóp và đi ra khỏi tuỷ răng. Đây là phần phát triển hoàn tất sau cùng của một răng. Đây cũng là nơi nhiễm trùng khởi phát khi răng bị tổn thương tạo các abces quang chóp.

 

 

 

Hố rãnh: là những vùng cấu tạo hình các hố rãnh dạng chữ V. Trên mặt nhai của các răng, nhất là các răng sau. Vùng hố rãnh tạo ra sự ăn khớp tốt giữa hai hàm giúp tăng hiệu quả nhai. Nhưng đây cũng là nơi dễ gây nhồi nhét thức ăn và có nguy cơ sâu răng cao.

Xương: chân răng nằm trong xương hàm và được gắn vào xương bởi hệ thống các dây chằng nha chu.

 

 

Dây chằng nha chu: có nhiệm vụ giữ răng nằm đúng vị trí trong xương. Dây chằng nha chu được cấu tạo bởi rất nhiều sợi nhỏ đan xen nhau, đi từ răng đến vùng xương ổ răng xung quanh chân răng. Vùng dây chằng nha chu này rất có nguy cơ bị phá hủy trong các bệnh lý nha chu và dẫn đến hậu quả là tiêu xương và lung lay răng.

Nướu: là phần mô mềm bao bọc quanh xương ổ răng. Nướu khỏe mạnh màu hồng cam, săn chắc và khi nướu viêm sẽ đỏ, bở, dễ chảy máu khi chải răng.

Làm răng có đau không?

Trong chúng ta nói chung, không một ai muốn bị đau nhất là đau răng. Và chúng tôi cũng gặp không ít trường hợp vì sợ đau mà nhiều khách hàng ngại đến nha khoa. Nhiều trường hợp dẫn đến bệnh răng miệng ngày càng nặng hơn và càng khó điều trị cũng như tốn kém hơn rất nhiều so với việc điều trị sớm, đúng phương pháp.

Hiểu rõ điều đó nên Nha Khoa Lan Anh về mặt lâm sàng có trang bị nhiều máy móc mới, hiện đại … như X.Quang tại chỗ, tay mài – chỉnh răng cao tốc – Hight Speed – với bạc đạn bằng gốm sứ siêu bền, vốn là những phát minh cao cấp dành cho công nghệ vũ trụ của NASA… cùng với sự khéo léo của Bác Sĩ chuyên khoa, âm nhạc nhẹ nhàng… sẽ giúp cho việc điều trị răng miệng trở nên nhẹ nhàng, dễ chịu hơn rất nhiều so với trước đây. (Nếu quý khách đã từng trải qua các lần làm răng trước đây).

 

 

Bên cạnh đó, Nha Khoa Lan Anh đã đầu tư nhiều công sức trong việc thông tin kịp thời những kiến thức răng miệng từ cơ bản đến chuyên sâu giúp Bạn giữ gìn và bảo vệ răng miệng tốt hơn.

 

Không có gì quý bằng răng thật, giữ gìn răng đúng cách, chữa răng kịp thời sẽ giúp bạn có một nụ cười tươi tắn, mạnh khỏe và tiết kiệm được nhiều thời gian, công sức, tiền bạc và không phải … sợ đau!

Môn chỉnh hình răng mặt là gì và tại sao người ta lại mang niềng răng?

Môn chỉnh hình răng mặt (orthodontics) là một môn nha khoa đặc biệt có liên quan đến việc xếp thẳng hàng răng và hàm nhằm giúp cho nụ cười đẹp hơn và sức khỏe nha khoa tốt hơn. "Ortho" có nghĩa là đứng hoặc thẳng, và "Odont" có nghĩa là răng. Bác sĩ nha khoa thường đề nghị nên mang niềng răng để làm cho miệng và mặt của bệnh nhân đẹp hơn. Chỉnh hình răng giúp khắc phục các vấn đề như răng không đều hoặc răng chật hàm, hàm trên hô hoặc hàm dưới đưa ra, vị trí xương hàm và khớp xương hàm bị lệch.

Khi nào nên mang niềng răng?

Bệnh nhân nào mắc phải các vấn đề về răng mặt có thể được chỉnh hình hầu như là vào bất cứ lứa tuổi nào. Tốt nhất nên mang niềng răng từ tuổi 10 đến 14, vì lúc này đầu và miệng còn đang phát triển, như vậy thì dễ làm thẳng hàng răng hơn. Tuy nhiên, bởi vì việc sửa đổi vẻ bề ngoài mặt mũi có thể gây chấn động tinh thần cho một đứa trẻ vào lứa tuổi nhạy cảm này, các bậc cha mẹ nên nói chuyện với con về vấn đề này trước khi cho cháu mang niềng răng. Hơn nữa, không chỉ có trẻ em mới mang niềng răng được. Càng ngày càng có nhiều người lớn mang niềng răng để chỉnh những khuyết điểm nhỏ và để làm cho nụ cười đẹp hơn.

Tôi phải mang loại niềng răng nào?

Nha sĩ sẽ cho biết loại niềng răng nào là thích hợp nhất cho bạn, nhưng thông thường bệnh nhân có thể lựa chọn. Nói chung có ba loại niềng răng: Loại phổ biến nhất là các móc niềng nhỏ bằng kim loại hoặc nhựa dính liền với răng và ít thấy. Loại niềng răng “lưỡi” dính liền với phần trong của răng, không thấy được. Loại truyền thống là các nẹp kim loại bọc quanh răng và che hầu hết các răng. Tất cả các loại niềng răng dùng dây thép để dịch chuyển răng đến vị trí mong muốn.

Tôi phải mang niềng răng trong bao lâu? Tùy theo kế hoạch điều trị của bạn. Nếu vấn đề về các kẽ răng hoặc khớp cắn càng phức tạp, và tuổi càng cao, thì thường thời gian điều trị sẽ lâu hơn. Phần lớn các bệnh nhân mang niềng răng trong thời gian từ 18 đến 30 tháng, sau đó thì mang một cái hàm giữ răng trong vòng ít nhất là vài tháng đến cao nhất là hai năm nhằm cho các mô thịt chân răng kết cứng theo vị trí thích hợp. Một số bệnh nhân có thể phải mang hàm giữ răng vĩnh viễn.

 

 

Việc điều trị có gây khó chịu không?

Mỗi lần bạn đến khám, nha sĩ sẽ siết chặt các sợi dây thép đan xen vào nhau, tạo áp lực nhẹ và giúp cho các móc niềng nhỏ (tức là các nẹp) từ từ đẩy được răng và hàm đến vị trí mong muốn. Sau mỗi lần đến khám, bạn có thể cảm thấy hơi đau ở răng và hàm, nhưng chỉ trong một thời gian ngắn mà thôi. Cũng nên nhớ rằng có thể cần phải nhổ một số răng để chừa chỗ cho các răng được niềng dịch chuyển và để giúp cho hàm được sắp đúng vị trí.

 

Tôi có cần phải tránh ăn bất cứ loại thức ăn gì không hoặc có cần phải từ bỏ thói quen nào không? Cần Tránh ăn đồ ngọt, chips và uống soda. Các loại thức ăn có đường và giàu tinh bột sinh ra axít và bợn răng, do đó có thể gây sâu răng và làm phát triển các bệnh về lợi. Ðối với các loại thức ăn cứng và bổ dưỡng như cà rốt hoặc táo thì nên cắt ra từng miếng nhỏ trước khi ăn. Các đồ ngọt dính như kẹo caramen có thể làm hư dây thép và nẹp bị tróc ra.

Tránh ăn những loại thức ăn dặm giòn và cứng như bắp rang, đậu phộng và kẹo cứng, vì chúng có thể làm đứt niềng răng. Cũng không nên làm những điều sau: nhai đá, mút ngón tay, thở bằng miệng quá nhiều, cắn môi và lấy lưỡi đẩy răng.

Tôi cần làm gì để chăm sóc răng tại nhà khi mang niềng răng?

Khi mang niềng răng, việc giữ vệ sinh nha khoa là quan trọng hơn bao giờ hết. Niềng răng có các khoảng trống nhỏ là nơi đóng các mảng thức ăn và bợn răng. Sau mỗi bữa ăn, hãy đánh răng kỹ bằng kem đánh răng có chứa chất florua và bàn chải lông mịn. Súc miệng kỹ và soi răng trong gương để chắc là răng sạch. Nên dành đủ thời gian để xỉa giữa niềng răng và dây thép bằng cách dùng sợi và dây xỏ. Cứ mỗi sáu tháng hãy đi phòng nha sĩ để được làm sạch răng để giúp cho lợi và răng được khỏe mạnh. Trong khi mang niềng răng, nếu không làm sạch răng thường xuyên thì men răng có thể bị ố xung quanh các móc niềng nhỏ hoặc nẹp.

Ai sẽ thực hiện việc chỉnh hình răng mặt?

Bác sĩ nha khoa của gia đình có trách nhiệm phối hợp việc chữa răng cho bạn, bao gồm bất cứ kế hoạch chỉnh hình răng mặt nào, chẳng hạn như chẩn đoán, xét nghiệm và một số tiến trình chỉnh hình răng mặt khác. Tuy nhiên, nha sĩ của bạn cũng có thể giới thiệu bạn đến một "chuyên gia chỉnh hình răng mặt" là người được đào tạo về sự phát triển, cách đề phòng, và sửa lại các vấn đề về răng, hàm và vấn đề khớp cắn cũng như các vấn đề bất thường liên quan tới mặt.

Các loại – Chỉnh nha- niềng răng điển hình:

Chỉnh nha cố định:

Mắc cài sứ – Mắc composit – bên ngoài Niềng răng bên trong

Chỉnh nha tháo lắp:

Dụng cụ bảo vệ hàm là gì?

Dụng cụ bảo vệ hàm là gì?

Dụng cụ bảo vệ hàm là một dụng cụ được làm bằng nhựa dẻo cho người chơi thể thao hoặc các hoạt động tiêu khiển đeo nhằm bảo vệ răng tránh bị chấn thương.

Tại sao tôi phải mang dụng cụ bảo vệ hàm?

Ðể bảo vệ miệng của bạn khỏi bị thương tích. Toàn ngành nha nhất trí ủng hộ việc sử dụng dụng cụ bảo vệ hàm trong nhiều hoạt động thể thao khác nhau. Có hơn 200,000 vụ chấn thương miệng và hàm xảy ra hằng năm.

 

 

 

Các dụng cụ bảo vệ hàm có chống lại việc xảy ra thương tích không?

 

Dụng cụ bảo vệ hàm có thể chống lại việc xảy ra thương tích nặng như chấn thương não, xuất huyết não, ngất xỉu, nứt xương hàm và chấn thương cổ bằng cách ngăn chặn những trường hợp làm cho hàm dưới đập lên và kẹt lại ở hàm trên. Dụng cụ bảo vệ hàm còn vẹt được các mô thịt mềm trong miệng ra để khỏi bị răng cắn phải, làm rách cũng như bầm môi và má, nhất là cho những ai đang mang các thiết bị chỉnh hình răng.

 

Trong trò chơi thể thao nào tôi nên mang dụng cụ bảo vệ hàm?

 

Bất cứ lúc nào có nhiều cơ hội va chạm với người chơi khác hoặc với các bề mặt cứng thì nên mang dụng cụ bảo vệ hàm. Những người chơi bóng rổ, bóng mềm, đấu vật, bóng đá, bóng vợt (lacrosse), rugby, trượt sàn theo hàng, và võ thuật cũng như trượt bán và đua xe đạp đều nên mang dụng cụ bảo vệ hàm trong khi thi đấu.

 

Hiện tại, đối với năm môn thể thao ở mức độ không chuyên, người chơi bắt buộc phải mang dụng cụ bảo vệ hàm trong lúc tập luyện và lúc thi đấu, đó là: quyền Anh, bóng bầu dục, khúc côn trên băng, bóng vợt nam và khúc côn cầu trên cỏ nữ.

 

Tại sao trẻ em không mang dụng cụ bảo vệ hàm?

 

Các bậc cha mẹ đôi khi không hiểu rõ mức độ va chạm cũng như sự chấn thương nặng ở răng có thể xảy ra trong các môn thể thao mà con mình tham gia. Tuy nhiên không phải tất cả các trường học, nhưng ở một vài nơi khuyên mang dụng cụ bảo vệ hàm trong các môn thể thao nhiều va chạm. Tiền mua có thể là một yếu tố nữa, mặc dù dụng cụ bảo vệ hàm được bán dưới nhiều giá khác nhau.

 

Có những loại dụng cụ bảo vệ hàm khác nhau nào?

 

Dụng cụ bảo vệ hàm làm sẵn: Mua dụng cụ bảo vệ hàm làm sẵn là sự chọn lựa rẻ tiền nhất và cũng là ít hiệu quả nhất vì độ điều chỉnh cho vừa vặn có giới hạn. Người đeo có thể bị lệch phát âm và khó thở vì dụng cụ bảo vệ này cần giữ yên bằng hai hàm đóng lại. Dụng cụ bảo vệ hàm làm sẵn không được chấp nhận là một thiết bị bảo vệ hàm, mặt.

 

Thiết bị bảo vệ theo hình miệng: Dụng cụ bảo vệ hàm được bán dưới dạng vỏ lót và "luộc và cắn". Loại vỏ được lót bằng chất acrylic hoặc cao su. Khi được đặt vào miệng của người chơi thể thao thì vật liệu lót sẽ nặn dáng theo răng và cứng lại. Vật liệu lót của dụng cụ bảo vệ hàm "luộc và cắn" được bỏ ngâm vào nước sôi khoảng 10 đến 45 giây, xong chuyển sang nước lạnh và sau đó đặt lên răng. Dụng cụ bảo vệ hàm "luộc và cắn" được hơn 90 phần trăm người chơi thể thao sử dụng. Mặc dù loại này rẻ tiền hơn loại bảo vệ hàm được đặt làm theo yêu cầu khách hàng, nhưng không vừa vặn và bền bằng.

 

Dụng cụ bảo vệ hàm được đặt theo yêu cầu khách hàng: Sự chọn lựa tốt nhất là dụng cụ bảo vệ hàm do nha sĩ của bạn làm. Loại này mang lại sự bảo vệ, vừa vặn, và dễ chịu nhiều nhất bởi vì được đúc đúng theo răng của bạn.

 

Tôi nên bảo quản dụng cụ bảo vệ hàm như thế nào?

 

 

  • Làm sạch dụng cụ bảo vệ hàm bằng cách rửa nước ấm (không nóng) và xà phòng.

 

  • Trước khi đem cất, ngâm dụng cụ bảo vệ hàm vào dung dịch súc miệng.

 

  • Giữ dụng cụ bảo vệ hàm của bạn khi không cần sử dụng trong một hộp nhựa thật thoáng. Hộp phải có nhiều lỗ thoáng khí để dụng cụ bảo vệ hàm được khô ráo dễ dàng.

 

  • Nhiệt độ cao có ảnh hưởng xấu đến dụng cụ bảo vệ hàm, do đó đừng để nơi có ánh nắng chiếu lên trực tiếp hoặc để trong xe hơi đóng kín cửa.

 

  • Ðừng bẻ cong dụng cụ bảo vệ hàm khi cất giữ.

 

  • Ðừng sử dụng hoặc mang dụng cụ bảo vệ hàm của người khác.

 

  • Gọi cho nha sĩ làm dụng cụ bảo vệ hàm của bạn nếu có vấn đề gì.

 

Các Nguyên Nhân và Phương Pháp Ðiều Trị Rối Loạn về Khớp Thái Dương-Hàm Dưới

Các căn bệnh và chứng rối loạn về khớp thái dương-hàm dưới (tiếng Anh thường gọi tắt là "TMJ") "TMJ" đề cập tới một loạt vấn đề liên quan tới khớp thái dương-hàm dưới (TMJ), cơ nhai, hoặc cả hai. Bệnh và chứng rối loạn về khớp thái dương-hàm dưới có phổ biến không?

Theo cuộc thăm dò ý kiến của Viện Sức Khỏe Quốc Gia Hoa Kỳ (tiếng Anh gọi tắt là NIH), hơn 10 triệu người ở Hoa Kỳ cho biết là họ mắc triệu chứng của bệnh TMJ vào bất cứ thời điểm nhất định nào. Trong những người cho biết bị triệu chứng TMJ thì số phụ nữ ở thời kỳ sanh sản nhiều hơn một chút so với số đàn ông. Trong số người đến xin điều trị thì tỷ lệ phụ nữ tăng lên nhiều hơn nữa, và đối với những ca nghiêm trọng hơn thì số bệnh nhân nữ vượt hẳn số bệnh nhân nam.

 

 

Các dấu hiệu và triệu chứng phổ biến nhất là gì?

Các triệu chứng của bệnh TMJ bao gồm: chứng đau ở má và gần lỗ tai, cứng hàm (không há hoặc ngậm miệng lại được), và hàm kêu rắc lúc cử động. Chứng đau có thể xuất hiện từng hồi hay thường xuyên. Các triệu chứng có thể sinh phát ở một hoặc cả hai bên mặt và có thể lan đến cơ thể. Phần lớn người bị bệnh chỉ mắc triệu chứng nhẹ thôi, nhưng đối với một thiểu số đáng kể thì bệnh sẽ phát triển đến giai đoạn đau liên hồi và hàm dưới bị giới hạn cử động đến mức nghiêm trọng. Các triệu chứng này có thể dẫn đến việc phải ăn kiêng cũng như ảnh hưởng nghiêm trọng đến khả năng làm việc và sinh hoạt xã hội và gia đình bình thường. Liệu chúng ta có biết nguyên nhân gây bệnh TMJ hay không?

Giống như tất cả các khớp khác, khớp TMJ và các mô xung quanh có thể bị ảnh hưởng bởi các dạng viêm khớp cũng như các chấn thương tự nhiên hay do tai nạn gây ra. Một số bệnh nhân dễ bị mắc bệnh TMJ hơn người khác, và hiện nay đang có một số cuộc nghiên cứu tìm hiểu xem điều này là vì các biến dị trong cơ cấu của khớp thái dương-hàm dưới hay vì đặc điểm riêng khác. Người ta cũng đang nghiên cứu về lý do vì sao phụ nữ chiếm đa số trong các ca TMJ nghiêm trọng. Nếu mắc phải các triệu chứng này thì tôi nên làm gì?

Bất cứ chứng đau và/hoặc loạn chức năng kéo dài nào thì nên được bác sĩ khám nghiệm để chẩn đoán đúng cách. Một điều quan trọng là phải xác định chắc chắn rằng những triệu chứng hàm đó không phải là dấu hiệu của bệnh bướu, bệnh thần kinh hay các tình trạng sức khỏe khác. Trước tiên bạn nên đi khám bác sĩ gia đình, và từ đó có thể được giới thiệu đến bác sĩ chuyên thần kinh, bác sĩ chuyên trị bệnh thấp khớp, hoặc một bác sĩ chuyên khoa khác. Nếu còn thắc mắc, hãy hỏi ý kiến của một bác sĩ thứ hai. Việc mắc chứng hàm kêu rắc lúc cử động hay bị cứng hàm mà không đau đớn gì thì không nhất thiết có nghĩa là bạn đang hoặc sẽ bị bệnh TMJ. Nếu bạn được giới thiệu đến chuyên viên nha khoa để được điều trị, Viện Nghiên cứu Răng miệng và Sọ – mặt Quốc gia đề nghị nên tránh bất cứ phương pháp điều trị nào xâm nhập các mô ở mặt, hàm hay khớp hoặc vĩnh viễn làm biến dạng hay đổi vị trí hàm và răng. Hãy nhớ là phần lớn các triệu chứng của bệnh TMJ sẽ tự hết theo thời gian.

 

Các bệnh/lối roạn ở khớp TM được chẩn đoán và điều trị như thế nào?

Sự hiểu biết của chúng tôi về bệnh TMJ chưa đủ chính xác để có thể chẩn đoán bệnh bằng các cuộc xét nghiệm như sinh thiết mô hay thử máu. Vào lúc này bác sĩ lâm sàng chỉ có cách ghi nhận các triệu chứng, tiểu sử bệnh án, và thỉnh thoảng chụp X-quang. Có ít nhất 50 phương pháp điều trị khác nhau, và bác sĩ thường chọn dùng phương pháp nào tùy theo chuyên môn của mình. Ða số phương pháp điều trị thường giúp cho phần lớn các bệnh nhân được đỡ bệnh lúc ban đầu, và thậm chí bệnh nhân cũng có thể đỡ bệnh khi không được điều trị gì hết. Có một điều rõ ràng là: không có một phương pháp trị bệnh TMJ nào phù hợp cho tất cả mọi người. Trong khi các ca nhẹ hơn thường được điều trị bằng các phương pháp quá mạnh, có nhiều bệnh nhân đau đớn đến nỗi bị yếu sức mà lại không được điều trị đầy đủ. Các chuyên viên họp tại Hội nghị Ðánh giá Kỹ thuật NIH được tổ chức vào năm 1996, đã kết luận rằng phương pháp nên chọn nhất là điều trị bảo tồn và tạm thời, đi kèm với các biện pháp giảm đau đầy đủ. Các cuộc nghiên cứu lâm sàng chưa chứng tỏ được tính an toàn và hiệu nghiệm của việc giải phẫu hàm, kể cả việc cấy hay thay thế toàn bộ hay từng phần của khớp. Nhiều trường hợp cấy khớp hàm không thành công đã dẫn đến những rắc rối nghiêm trọng. Liệu bảo hiểm của tôi có thanh toán cho các dịch vụ điều trị TMJ hay không?

Người ta vẫn còn tranh cãi về vấn đề TMJ là tình trạng thuộc nha khoa hay y khoa. Hiện nay các tiêu chuẩn chẩn đoán bệnh cũng như nhiều phương pháp điều trị chưa được khoa học chứng nhận. Các vấn đề này, cùng với một số bằng chứng cho thấy rằng có bệnh nhân bị bệnh TMJ còn nặng hơn sau khi điều trị, khiến cho các công ty bảo hiểm cân nhắc việc nên thanh toán cho các dịch vụ này hay không, hoặc thậm chí không chịu thanh toán cho chi phí chẩn đoán và điều trị bệnh TMJ. Cần phải nghiên cứu gì thêm về bệnh TMJ?

Vào mùa xuân năm 2000, nhóm bệnh vực bệnh nhân trên toàn quốc, là Hội hiệp TMJ, đã làm một nhà tài trợ cho hội nghị mang tựa đề, "Ðưa việc Nghiên cứu TMJ vào Thế kỷ thứ 21." Những đề nghị chính bao gồm 1) cần phát triển các mô hình dùng thú vật, máy tính và nuôi cấy tế bào để nghiên cứu khớp TMJ ở tình trạng bình thường, chấn thương và bệnh tật, 2) phát triển hệ thống phân loại để dùng trong khi chẩn đoán bệnh, 3) đánh giá các vấn đề chỉnh mô TMJ cũng như triển khai các phương pháp điều trị bằng gen và prôtít để tái tạo mô, và 4) nghiên cứu các nguyên nhân tác động vào dây thần kinh dẫn đến chứng đau ở các mô thịt bên trong và khớp để tìm đến các phương pháp giảm đau hiệu nghiệm hơn. Có thể tìm thấy các chi tiết về hội nghị cũng như nhiều thông tin khác về bệnh TMJ tại trang Web của nhóm này, địa chỉ www.tmj.org

Chăm Sóc Căn Bản Về Răng Ra Sao?

ÐÁNH RĂNG ÐÚNG CÁCH

Ðánh răng đúng cách giúp giảm thiểu được nguy cơ mắc các chứng bệnh sâu răng và cơ lợi, một nguyên nhân chính làm cho răng rụng. Sử dụng bàn chải mềm và kem đánh răng có chất florua được chứng nhận bởi Hội Nha Hoa Kỳ (ADA) để làm sạch các mảng bợn răng và đồ ăn dính. Thay mới bàn chải sau mỗi ba tháng.

Ðánh răng cả bề trong lẫn ngoài của hàm. Cầm bàn chải theo góc 45 độ và đánh theo biên độ bằng khoảng cách của nửa chiều ngang một chiếc răng và đánh dọc theo đường viền cơ lợi.
những bề mặt tiếp xúc khi nhai, cầm bàn chải ngang và đánh qua lại.
mặt trong của các răng phía trước, nghiêng bàn chải hơi đứng và dùng đầu bản chải đánh nhẹ lên xuống. Brushing
Chà lưỡi từ trong ra ngoài bằng động tác quét để lấy ra các mảnh thức ăn còn dính và làm cho hơi thở khỏi bị hôi.

DÙNG DÂY XỈA RĂNG ÐÚNG CÁCH Dùng dây xỉa răng hằng ngày để làm sạch bợn răng và các mảnh thức ăn còn tồn đọng ở các kẽ răng cũng như kẽ lợi tận phía dưới đường viền.

Flossingarrow2.gif (188 bytes) Quấn sợi xỉa dài khoảng 18 inch quanh hai đầu ngón tay giữa và giữ chặt đầu kia, chừa ở giữa khoảng một inch.

 

 
Flossing arrow2.gif (188 bytes) Từ từ kéo sợi xỉa giữa các kẽ răng. Ðẩy lên xuống nhiều lần trong khi đang kéo vòng theo chân răng và viền lợi.
Flossing Flossing
Luôn luôn xỉa kẽ giữa răng và lợi trong cùng. Tháo sợi xỉa ra từ từ khi xỉa.
Flossing arrow2.gif (188 bytes) Xỉa xung quanh các răng trụ của cầu răng và dùng dây xỏ để xỉa phía dưới phần răng giả.

Bạn có thể cảm thấy bị đau hoặc bị chảy máu lợi trong mấy ngày đầu tiên. Nếu vẫn bị chảy máu sau tuần lễ đầu dùng sợi xỉa, gọi cho nha sĩ của bạn. Nếu sợi xỉa khó sử dụng đối với bạn, hỏi nha sĩ về việc sử dụng một dụng cụ căng giữ sợi xỉa, hoặc một loại dụng cụ làm sạch kẽ răng nào khác

Điều trị tủy răng – Nội nha

Nếu buồng chứa dây thần kinh của răng bị nhiễm trùng do sâu răng hoặc chấn thương thì nhiều khi chỉ có một cách giữ lại răng, đó là điều trị ống chân răng.

Bên trong vỏ ngoài cứng của răng có một vùng đặc biệt được gọi là tủy hay buồng chứa dây thần kinh.

Buồng tủy chứa một hệ thống các mạch máu, mạch bạch huyết và dây thần kinh (cũng gọi là tủy) được dẫn từ xương thông qua các ống chân răng vào buồng. Hệ thống này cung cấp chất dinh dưỡng cho các tế bào trong răng.

Tooth

 

Nếu răng bị sâu nặng hay bị chấn thương thì có thể gây thiệt hại hoặc nhiễm trùng cho tủy răng. Khi điều trị ống chân răng, hay gọi cách khác là điều trị nội nha, nha sĩ rút tủy bị hư hay nhiễm trùng rồi thế vào đó một chất độn đặc biệt để giúp duy trì cơ cấu răng còn lại.

 

Một số dấu hiệu cho thấy việc cần điều trị ống chân răng là:

 

  • Bị đau hoặc nhói khi nhai.

  • Nhạy cảm với thức ăn nóng và lạnh.

  • Sâu răng nặng hoặc chấn thương gây áp-xe (nhiễm trùng) trong xương.

 

*QUÁ TRÌNH ÐIỀU TRỊ ỐNG CHÂN RĂNG

 

Step 1

Bước 1
Sau khi răng được chích thuốc tê, nha sĩ sẽ khoang một lỗ hổng xuyên qua thân răng vào buồng tủy.

 

 

 

 

 

Bước 2
Xác định chiều dài của ống chân răng.

 

 

 

 

 

 

 

Step 3 Bước 3
Rút ra phần tủy bị hư. Ống chân răng được làm sạch, mở rộng và điều chỉnh hình dạng.

 

 

 

 

 

Bước 4
Ống chân răng được độn và hàn lại. Một trụ bằng kim loại có thể được gắn vào để củng cố răng hoặc giữ lại các chất dùng để phục hồi răng.

 

 

 

 

 

Step 5 Bước 5
Răng được tạm thời trám lại. Thường thì mão chụp răng bằng vàng hoặc sứ giúp bảo vệ thêm cho răng.

 

 

 

 

 

Chất độn trong ống chân răng có lẽ sẽ vĩnh viễn ở trong đó, nhưng sau này bạn có thể cần thay thế chất trám hoặc mão chụp răng