Sâu răng và cách điều trị

Nếu không được điều trị, bệnh có thể gây các biến chứng như viêm tủy răng, viêm quanh cuống răng với các cơn đau dữ dội. Sâu răng còn có thể gây viêm hạch, viêm tủy xương, thậm chí gây nhiễm trùng huyết.

Sâu răng là một bệnh mạn tính phổ biến. Tuy y học đã phát triển nhiều, vệ sinh răng miệng đã được thực hiện rộng rãi nhưng tỷ lệ bệnh sâu răng vẫn ngày càng tăng ở các nước phát triển (90%, thậm chí 100% dân số).

Chẩn đoán sâu răng thường dựa vào các triệu chứng:

– Nhìn thấy lỗ sâu: Thường là thương tổn men và ngà răng. Nếu dùng que nạo ngà, lấy hết vụn bẩn thức ăn trong lỗ sâu, sẽ thấy đáy lỗ sâu rộng hơn miệng lỗ.

– Đau buốt khi kích thích: Khi thức ăn lọt vào lỗ sâu, khi ăn nóng, lạnh, ngọt…, bệnh nhân sẽ đau buốt; hết tác nhân kích thích sẽ hết đau.

– Nếu thấy răng có lỗ sâu mà đau thành cơn kéo dài khoảng 10 phút rồi dịu dần thì đó là dấu hiệu nhiễm trùng tủy răng. Lúc này, sự can thiệp của thầy thuốc là rất cần thiết.

Để điều trị sâu răng, cần nạo sạch ngà vụn, sát khuẩn lỗ sâu và hàn kín. Tùy theo vị trí của lỗ sâu, mức độ sâu và điều kiện kinh tế của từng bệnh nhân, bác sĩ sẽ chọn chất hàn phù hợp.

Để phòng sâu răng, không nên ăn vặt, nhất là thức ăn có đường; tăng cường thức ăn có nhiều chất xơ như rau, táo, cam… Cần tăng cường chất lượng tổ chức cứng của răng bằng cách: người mẹ mang thai ăn uống tốt, nhất là cung cấp đủ canxi và vitamin; trẻ em cần chống còi xương, suy dinh dưỡng vì điều này ảnh hưởng tới sự phát triển của răng. Vitamin D, fluor là chất vi lượng rất quan trọng để nâng cao chất lượng tổ chức cứng của răng.

Về vệ sinh răng miệng, cần chải răng đúng cách với kem chứa fluor, tốt nhất là sau bữa ăn. Nếu chải 1 lần/ngày thì nên làm vào buổi tối trước khi đi ngủ. Lấy cao răng định kỳ 6 tháng/lần.

BS Trịnh Thu Hà, Sức Khỏe & Đời Sống

Bệnh nha chu và cách phòng ngừa

Nha chu liên quan trực tiếp đến mô nâng đỡ quanh chân răng, bao gồm bệnh của nướu và các bệnh lý phá hủy mô nâng đỡ sâu bên dưới nướu (xương ổ răng, dây chằng nha chu…). Nha chu là nguyên nhân quan trọng gây mất răng.

Bệnh thường diễn biến qua 2 giai đoạn: viêm nướu và viêm nha chu. Nếu nướu bị viêm, ta sẽ thấy một hoặc nhiều dấu hiệu sau:

– Nướu đổi màu so với bình thường (hoặc đỏ thẫm, hoặc tím thẫm).

– Nướu sưng lớn hơn bình thường.

– Dễ dàng chảy máu khi chải răng.

– Trường hợp nặng có thể chảy máu tự phát (phát hiện trễ).

– Cảm giác hơi khó chịu.

Nếu kịp điều trị ở giai đoạn này, bệnh sẽ khỏi hẳn. Nếu không, phần lớn các trường hợp sẽ tiến triển thành viêm nha chu. Lúc đó, dù điều trị thế nào, bạn cũng không thể hồi phục như cũ vì bệnh đã phá hủy các mô nâng đỡ răng sâu bên dưới nướu như xương, dây chằng nha chu và xê-măng. Ở thời kỳ viêm nha chu, nguy cơ mất răng cao.

Có những trường hợp phản ứng viêm bị che lấp hoặc không xảy ra mãnh liệt khiến ta khó nhận biết, trong khi xung quanh chân răng đã hình thành các sang thương bệnh lý như mất bám dính, xương ổ bị phá hủy tạo thành một tổn thương thực thể gọi là túi nha chu. Trong các túi này, tình trạng nhiễm trùng tiếp tục phát triển. Dần dần, bệnh càng tiến triển khiến hiện tượng tiêu xương ngày một trầm trọng, răng lung lay, đôi khi không thể giữ được và phải nhổ đi.

Hãy đến nha sĩ ngay nếu có các biểu hiện viêm nha chu dưới đây:

– Chảy máu nướu khi chải răng.

– Nướu đỏ, sưng, tách ra khỏi răng.

 – Hơi thở hôi dai dẳng.

– Có ổ mủ hoặc có mủ chảy ra ở giữa răng và nướu ở vùng cổ răng.

– Răng lung lay hoặc thưa ra, đặc biệt khi nhai.

Thông thường bệnh viêm nha chu xảy ra không rõ ràng, bởi phần lớn thời gian diễn tiến bệnh không kèm theo triệu chứng đau đặc hiệu. Vì vậy, việc khám răng miệng định kỳ, trong đó khám toàn diện mô nha chu, là rất cần thiết.

Nguyên nhân chính gây bệnh nha chu là sự phát triển của vi khuẩn trong mảng bám răng. Thoạt đầu, trên răng sẽ hình thành một màng trong suốt bám vào. Nếu không đánh răng đều để loại trừ màng này, nó sẽ tích tụ, dần dần bị khoáng hóa trở thành vôi răng với lượng vi khuẩn ngày càng tăng. Các độc tố do vi khuẩn tạo ra xâm nhập mô nướu, gây viêm. Chúng cũng phá hủy các mô nâng đỡ răng khiến nướu dần tách ra khỏi mặt răng.

Các yếu tố nguy cơ gây bệnh nha chu bao gồm:

– Chế độ dinh dưỡng và bảo vệ sức khỏe răng miệng không tốt.

– Tâm lý căng thẳng (làm giảm sức đề kháng của cơ thể).

– Hút thuốc lá, bị tiểu đường.

– Các bệnh tác hại đến hệ thống miễn dịch như bệnh bạch cầu, nhiễm HIV/AIDS.

Để phòng bệnh nha chu, điều quan trọng nhất là đánh răng đều đặn để loại bỏ mảng bám vi khuẩn trên bề mặt răng và khe nướu. Sáu tháng 1 lần, nên đến nha sĩ khám răng định kỳ và lấy sạch vôi răng, mảng bám ở những nơi bàn chải không làm sạch được.

Nha sĩ sẽ tư vấn về cách vệ sinh răng miệng như cách chọn lựa bàn chải đánh răng, sử dụng đúng chỉ nha khoa, chải kẽ răng để lấy sạch mảng bám. Nha sĩ cũng là người tư vấn chọn lựa thuốc súc miệng, kem chải răng thích hợp để giúp chúng ta bảo đảm được sức khỏe răng miệng và dự phòng tốt bệnh nha chu.

Khi đi khám, bạn đừng quên báo với bác sĩ nha khoa những thay đổi về sức khỏe chung, các thứ thuốc mà mình đang sử dụng như thuốc tránh thai, chống trầm cảm, tim mạch… vì chúng có thể tác động đến sức khỏe răng miệng.

BS. Trần Giao Hoà, Sức Khoẻ & Đời Sống

Dùng bàn chải điện ít bị sâu răng

Bàn chải đánh răng chạy bằng điện với thiết kế đặc biệt có thể quét sạch bựa và mảng bám, do đó ngừa các bệnh răng miệng tốt hơn bàn chải thường. Các nhà khoa học Anh tuyên bố như vậy, sau khi phân tích 29 cuộc thử nghiệm nha khoa với sự tham gia của hơn 1.700 người.

 

Bàn chải điện rất được ưa chuộng trong những năm gần đây, song chưa có nghiên cứu nào tìm hiểu về tác dụng của chúng. Nhóm nghiên cứu đến từ Viện Nha khoa Edinburgh và 3 đại học khác ở Anh mới đây đã trở thành những người đầu tiên công nhận hiệu quả của dụng cụ vệ sinh nha khoa này.  Họ nhận thấy những người sử dụng bàn chải điện trong vòng 1 tháng có lượng mảng bám giảm 11% so với những người dùng bàn chải thường. Đặc biệt là nguy cơ phát triển các bệnh răng miệng như viêm lợi, sâu răng… ở nhóm này giảm 6%, và sau 3 tháng giảm tới 17%.

 

Theo nhóm nghiên cứu, bàn chải điện hội tụ 2 yếu tố làm sạch răng quan trọng, đó là động tác chải xoay tròn và đầu bàn chải nhỏ. Đầu bàn chải chuyển động quanh mặt răng và dễ dàng đi vào cả những ngóc ngách mà bựa thức ăn và mảng bám ẩn trú.

Mỹ Linh (theo BBC)

Bỏ ăn sáng dễ bị sâu răng

Các nhà nghiên cứu Mỹ tìm thấy trẻ em trong độ tuổi 2-5 nếu không ăn sáng mỗi ngày có nguy cơ bị sâu răng sữa cao gấp 4 lần những em dùng bữa sáng đều đặn. Những trẻ nhỏ này cũng có khả năng bị thủng răng cao gấp 3 lần, nếu thiếu những bữa rau quả hằng ngày.

Nghiên cứu trước cho thấy trẻ em nghèo thì dễ bị sâu răng hơn những đứa trẻ khác. Tuy nhiên, nghiên cứu mới cho thấy những đứa trẻ không nghèo nhưng bỏ bữa sáng và khẩu phần rau quả hằng ngày cũng nhiều khả năng bị sâu răng hơn là những bé nghèo.

Bác sĩ Cynthia Ogden và cộng sự tại Trung tâm phòng chống bệnh tật ở Maryland, Mỹ, đã thu thập thông tin sức khoẻ từ hơn 4.000 trẻ em từ năm 1988 đến 1994.

Chỉ 23% số trẻ ăn sáng đều đặn có lịch sử sâu răng, so với 34% những trẻ bỏ bữa sáng. Tình trạng sâu răng cũng chỉ có ở 18% trẻ dùng ít nhất 5 lần rau quả trong ngày, trong khi có ở 26% trẻ ăn ít bữa rau quả hơn.

Ogden giải thích rằng những em bỏ ăn sáng thường có xu hướng ăn nhiều bánh kẹo hơn trong ngày, vì vậy mà tiêu thụ lượng đường cao hơn. "Bữa sáng cung cấp một lượng dinh dưỡng cho cả ngày, vì vậy bạn sẽ thấy ít thèm ăn trong quãng thời gian còn lại", Ogden nói.

Ngoài ra, canxi giúp bảo vệ răng khỏi bị sâu, sữa và ngũ cốc cung cấp đầy đủ chất khoáng. Những trẻ ăn nhiều rau quả cũng có chế độ dinh dưỡng tốt hơn, còn những em bị thiếu thì lại dễ lấy đường thay rau.

"Nói chung, ăn uống đều đặn rất quan trọng để giúp trẻ khỏi bị sâu răng. Cha mẹ cần nhận thức rằng bữa sáng là một nhân tố cần thiết để bảo vệ răng cho trẻ em", Ogden phát biểu.

Minh Thi (theo Reuters)

Cẩn thận với u răng

Sâu răng, nhiễm trùng hoặc chấn thương răng rất dễ dẫn đến u răng. Bệnh gây rụng răng hàng loạt kể cả khi chạm nhẹ, nếu nặng có thể làm biến dạng hàm, mặt, cản trở các chức năng nhai, nuốt, nói..

U nang răng có hai loại:

U nang chân răng: do răng bị nhiễm trùng, sâu hoặc chấn thương gây nên. Người bệnh không hề có triệu chứng đau nhức hay khó chịu, dấu hiệu duy nhất để phát hiện sớm bệnh là răng đổi mầu. Chỉ khi bệnh nặng mới xuất hiện các triệu chứng như chảy mủ, đau ở vùng có u, lung lay răng, sưng mặt ở xương hàm…

– U nang thân răng bắt nguồn từ một chiếc răng ngầm, sau đó phát triển thành nang, nên bệnh lúc đầu khó phát hiện. Chỉ đi khám định kỳ mới phát hiện được.

Ngoài ra còn có u men dạng nang – hiện tượng những mầm men ngà còn tồn tại từ lúc sinh tạo thành u. Đặc điểm của loại u này là rất dễ tái phát. Khi phát triển, nó sẽ lan vào các tổ chức xung quanh như phần mềm, xương hàm, khớp thái dương hàm, sàn sọ, khiến gương mặt bệnh nhân bị biến dạng hoàn toàn, khó khăn khi nhai, nuốt, nói, thở… Trong trường hợp này, bác sĩ buộc phải cắt xương hàm, tháo khớp.

Biện pháp phòng bệnh tốt nhất là khám răng định kỳ, 6 tháng hoặc 1 năm/lần nhằm phát hiện bệnh sớm và có hướng điều trị, tránh biến chứng xảy ra.

Phương pháp điều trị duy nhất hiện nay là phẫu thuật lấy u. Nếu bệnh nhân phát hiện bệnh sớm thì phẫu thuật đơn giản, tiên lượng tốt. Nếu bệnh đã nặng thì điều trị khó, thậm chí còn để lại nhiều di chứng như lép mặt, răng rụng hàng loạt…

(Theo Người Lao Động)

Sâu răng do bú bình và biện pháp phòng ngừa

Không ít trẻ mới được 1-3 tuổi đã bị sâu răng, có khi mất gần toàn bộ hàm trước. Nguyên nhân là trẻ bú sữa bằng bình, khiến răng bị phá hủy nhanh chóng hoặc xuất hiện các lỗ sâu lớn màu đen.

Sâu răng do bú bình thường xảy ra với những răng phía trước của cả hàm trên và hàm dưới. Bệnh hay gặp ở trẻ dưới 3 tuổi có thói quen ngậm lâu các chất lỏng có chứa nhiều đường như nước trái cây, sữa trong khi ngủ. Vi trùng gây sâu răng sẽ sử dụng các chất đường làm thức ăn, sau đó lên men axit và phá hủy răng. Mỗi lần axit tấn công khoảng 20 phút hay lâu hơn, sau nhiều lần sẽ gây sâu răng.

Tầm quan trọng của răng sữa

Răng sữa của trẻ cũng quan trọng như răng vĩnh viễn, giúp trẻ nói chuyện, ăn nhai, dinh dưỡng tốt hơn. Dưới mỗi răng sữa đều có một mầm răng vĩnh viễn chuẩn bị mọc và phía sau răng cối sữa là răng cối vĩnh viễn. Ngoài ra, răng sữa còn đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của xương hàm. Nếu răng sữa chậm rụng hay mất quá sớm thì sẽ làm răng vĩnh viễn mọc chen chúc nhau, dẫn đến sự xáo trộn khớp cắn.

Cách phòng ngừa sâu răng do bú bình

– Đừng để trẻ đi ngủ mà vẫn ngậm bình sữa hoặc nước trái cây. Nếu bé cần bú bình mới ngủ được thì chỉ cho ngậm bình nước lọc và lấy bình ra ngay khi bé đã ngủ. Cần bảo đảm núm vú sạch sẽ và không còn dính chất đường.

– Tập cho trẻ uống sữa bằng ly càng sớm càng tốt, làm chất đường khó đọng lại trên răng.

– Chỉ cho bé bú bình vào những bữa ăn chính, không nên tập cho bé thói quen ngậm bình sữa khi chơi hoặc ngủ.

– Luôn giữ miệng bé sạch sẽ. Sau mỗi lần ăn hay bú sữa, cần vệ sinh răng miệng ngay bằng bông gòn hay gạc. Cần tập cho bé thói quen chải răng ngay sau khi mọc răng sữa. Hướng dẫn bé cách sử dụng chỉ tơ nha khoa đúng cách để làm sạch kẽ răng khi bé được 2-2,5 tuổi, lúc tất cả các răng sữa đã mọc đủ.

– Nếu nguồn nước sử dụng không được Fluor hóa để phòng ngừa sâu răng, hãy đến bác sĩ răng hàm mặt xin tư vấn cách bổ sung Fluor cho trẻ.

– Nên khám răng định kỳ cho trẻ khi được 6 tháng đến 1 tuổi để phát hiện răng sâu, đặc biệt những đốm sẫm màu trên răng.

Bác sĩ Nguyễn Quốc Dũng, Sức Khỏe và Đời Sống

Răng số 6 hàm dưới rất dễ bị sâu

Đây là một trong những chiếc răng có chức năng nhai quan trọng nhất trên cung hàm, nằm ở vị trí thứ 6 tính từ răng cửa. Là chiếc răng vĩnh viễn mọc sớm nhất (lúc trẻ được 6 tuổi) nên nó có nhiều nguy cơ bị sâu nhất. Nếu bị sâu nặng, cách xử lý duy nhất là nhổ bỏ. 

Bác sĩ Hứa Thị Xuân Hòa, Trưởng khoa Phẫu thuật trong miệng Bệnh viện Răng hàm mặt TP HCM, cho biết, trong các ca sâu răng trẻ em đến điều trị, số trường hợp sâu răng số 6 hàm dưới chiếm một tỷ lệ lớn. Nguyên nhân chủ yếu gây sâu răng là vệ sinh răng miệng kém.

Việc nhổ bỏ răng số 6 hàm dưới không chỉ gây mất thẩm mỹ mà còn khiến các răng còn lại có khuynh hướng xô lệch, nghiêng, dẫn đến rối loạn khớp cắn, giảm chức năng nhai. Nhiều bệnh nhân do phải nhai một bên nên bên kia bị đóng vôi, hư cả hàm; các cơ và xương hàm bên không nhai cũng kém phát triển, khiến mặt thiếu cân đối. Bệnh nhân bị nhổ bỏ răng số 6 hàm dưới còn có thể bị rối loạn khớp thái dương hàm (hội chứng Sadam) với triệu chứng nhức đầu, chóng mặt, ù tai… do rối loạn khớp cắn kéo dài.

Chính vì vậy, các bác sĩ chỉ quyết định nhổ chiếc răng này trong những trường hợp bất khả kháng, khi nó bị sâu quá nặng. Các trường hợp còn lại sẽ được điều trị bảo tồn. Tiến sĩ Phạm Xuân Sáng, Trưởng phòng Kế hoạch tổng hợp Bệnh viện Răng hàm mặt, cho biết, hiện cơ sở này đã áp dụng biện pháp chữa tủy và phẫu thuật cắt chóp để bảo trì răng số 6 đến mức tối đa. Khi bắt buộc phải nhổ, các bác sĩ sẽ khôi phục nó bằng kỹ thuật phục hình răng giả. Nếu chưa làm được răng giả, bệnh nhân sẽ được đeo bộ giữ khoảng cách để tránh xô đẩy giữa các răng.

Để đề phòng sâu răng số 6, phụ huynh cần bảo đảm vệ sinh răng miệng cho trẻ, đặc biệt quan tâm đến chiếc răng này. Nếu thấy nó có một vết đen nhỏ, nên đưa trẻ tới khám ngay tại các cơ sở chuyên khoa. Tiến sĩ Sáng cũng lưu ý phụ huynh tránh nhầm răng số 6 hàm dưới với răng sữa. Khi trẻ được 2 tuổi, tất cả các răng sữa đều đã mọc. Vì vậy, những răng mọc sau 2 tuổi đều là răng vĩnh viễn.

(Theo Người Lao Động)

2 tỷ đồng cho chương trình ‘Nha học đường’

Đó là số tiền do Công ty Colgate đóng góp cho chương trình. Theo báo cáo của Viện Răng hàm mặt, hơn 80% trẻ 6-8 tuổi bị sâu răng sữa; 98% người lớn ở độ tuổi 18-34 mắc các bệnh quanh răng.

Trong lễ cổ động sáng nay tại công viên Lê Văn Tám, TP HCM, công trình "Nụ cười lớn nhất" được ra mắt, thể hiện một gương mặt cười cao 18 m, đường kính 14 m, nặng trên 2 tấn, được lắp ghép bằng hơn 35.000 vỏ hộp kem đánh răng. Ban tổ chức đang gấp rút chuẩn bị hồ sơ quanh sự kiện này để đăng ký ghi vào sách Guiness thế giới.

Nhiều trò chơi khác như "Em tập chải răng", "Hàm răng khoẻ nhất", "Sức khoẻ răng miệng tốt nhất"… nhằm nâng cao ý thức về răng miệng cho khách tham quan, cũng được tổ chức. Có khoảng hơn 1.000 người đến tham gia lễ cổ động.

T.T

Báo động về tình trạng thiếu chất xơ trong bữa ăn

Cùng với mức sống được nâng cao, người dân đang có xu hướng tiêu thụ nhiều thức ăn "tinh" (không có chất xơ), làm tăng mạnh tỷ lệ sâu răng và các bệnh lý đường tiêu hóa như táo bón, ung thư trực tràng, đại tràng… Ở những vùng có mức sống thấp, các bệnh trên ít xuất hiện hơn hẳn do người dân ăn nhiều thực phẩm thô giàu chất xơ.

Tại Mỹ, do có chế độ ăn thiếu chất xơ nên bệnh ung thư trực tràng, đại tràng có số người mắc đứng hàng thứ ba trong các bệnh lý gây tử vong. Tỷ lệ mắc bệnh này ở Mỹ cao hơn 9 lần so với Nigeria, 13 lần so với Uganda – những nước có chế độ ăn truyền thống rất giàu chất xơ. Các nghiên cứu dịch tễ còn cho thấy, chỉ sau vài năm sinh sống ở Mỹ, tỷ lệ ung thư đại tràng, trực tràng ở những người da đen mới nhập cư đã ngang bằng với người da trắng.

Tại Việt Nam, do mức sống được nâng lên nên người dân các thành phố lớn đang sử dụng ngày càng nhiều các loại thực phẩm tinh chế mua tại các siêu thị, ăn nhiều thịt (có rất ít hoặc không có chất xơ), ít rau. Tình trạng thiếu chất xơ do thói quen ăn uống này gây ra đang dẫn đến nguy cơ gia tăng các bệnh của bộ máy tiêu hóa.

Tuy không có giá trị dinh dưỡng nhưng chất xơ là thành phần không thể thay thế đối với sức khỏe con người. Nếu như các thành phần dinh dưỡng (đạm, đường…) được hấp thu hoàn toàn tại ruột non thì chất xơ khi xuống tận đại tràng vẫn không bị chuyển hóa. Trong quá trình tiêu hóa, chất xơ kích thích làm tăng nhu động ruột, thức ăn không ứ đọng lâu và dễ dàng đi qua ruột. Nó cũng trực tiếp hút chất độc, ức chế sự hình thành chất độc và sự phát triển một số loại vi khuẩn gây hại trong đại tràng, ngăn ngừa ung thư ở cơ quan này. Với khả năng pha loãng các độc tố, chất xơ cũng ngăn ngừa những biến đổi có hại trên thành đại tràng.

Ngoài ra, quá trình lên men chất xơ trong cơ thể còn giúp phát triển các loại vi khuẩn có lợi cho sức khỏe. Nó cũng kết hợp với cholesterol và axit mật để hạ thấp nồng độ cholesterol trong máu, giúp phòng ngừa các bệnh tim mạch và lưu thông huyết não.

Chất xơ có nhiều ở vỏ ngũ cốc thô, các loại hạt, đậu, rau và trái cây. Đó là lý do khiến phương pháp dưỡng sinh phương Đông khuyến khích ăn các loại ngũ cốc thô thay vì đã chà xát kỹ, ăn trái cây cả vỏ (bất cứ khi nào có thể). Theo chế độ ăn dưỡng sinh, nên dùng 50% ngũ cốc thô hoặc thực phẩm chế biến từ ngũ cốc thô; 20-30% rau quả bản địa; 10% đậu, cá, thịt trắng; 5-10% các loại canh; 5-10% gia vị; thực phẩm bổ sung gồm thức uống và món tráng miệng.

Tốt nhất là ăn nhiều thực phẩm nguyên chất, nhưng không nên ăn tất cả trong cùng một bữa. Bữa ăn trung bình nên gồm một bát súp, một món có 1-2 hai loại ngũ cốc thô, vài loại rau hấp, một đĩa đậu hoặc chút ít cá, thịt trắng, một ít rau sống, rau thơm. Mỗi ngày cố gắng dùng 2-3 loại ngũ cốc thô, ít nhất 7 loại rau có màu sắc khác nhau; ăn sống vài loại, nấu chín vài loại.

Chế độ ăn nói trên hiệu quả hơn bất kỳ loại thuốc nhuận tràng nào trong việc chữa trị các rối loạn đường ruột. Nó cũng là giải pháp thật sự an toàn và lâu bền.

BS Bùi Nguyên Kiểm, Sức Khỏe & Đời Sống

 

 

 

Chứng khô miệng mạn tính ở người cao tuổi

 Theo thống kê, có tới 20-25% người cao tuổi là nạn nhân của chứng bệnh này. Nếu để lâu không điều trị, chứng khô miệng sẽ khiến bệnh nhân suy nhược do chán ăn, đồng thời rất dễ gặp các vấn đề về răng miệng như sâu răng, nấm lưỡi, áp xe tuyến mang tai. Do lượng nước bọt tiết ra ngày càng ít, người bệnh sẽ khó nhai, khó nuốt thức ăn khô, phải chan canh hoặc dùng thức ăn lỏng.

Dần dần, các rối loạn do khô miệng nặng hơn, nước bọt quánh đặc, ít đi, niêm mạc miệng trở nên đỏ, khô; lưỡi bóng và mất gai, gây đau, rối loạn vị giác, ăn không ngon miệng. Tình trạng khô miệng khiến người bệnh phải uống nước liên tục trong ngày, nhấp nước khi nói, thậm chí thức giấc nhiều lần trong đêm để uống nước. Hậu quả trực tiếp của tình trạng này là suy dinh dưỡng, mất ngủ, làm tăng thêm tình trạng suy nhược cơ thể.

Chứng khô miệng tạo điều kiện cho sự hình thành cao răng, khiến răng chóng sâu, mau rụng và gây bệnh viêm lợi. Nó cũng có thể dẫn đến một số biến chứng nguy hiểm như nấm lưỡi, áp xe tuyến mang tai.

Có hai nhóm nguyên nhân chính gây khô miệng:

Thiểu tiết nước bọt: Người già do ít có cảm giác khát nên thường uống không đủ nước. Một số người ít uống nước do gặp khó khăn khi vận động (sau tai biến mạch máu não, mắc một số bệnh lý xương khớp) hoặc do mắc chứng đái dầm, u xơ tiền liệt tuyến (phải đi tiểu thường xuyên). Điều này khiến lượng nước bọt tiết ra bị giảm đi.

Nuốt nhiều nước bọt: Thường gặp ở những người có bệnh lý vùng khoang miệng (khuyết răng, sâu răng, hàm giả không ổn định…) hay bị lo âu, trầm cảm.

Một số bệnh lý cũng dẫn đến khô miệng như u lympho, bệnh lý thần kinh, nội tiết hay rối loạn dinh dưỡng (như nghiện rượu mạn tính, đái tháo đường, đái tháo nhạt, thiếu máu…). Ngoài ra, chứng khô miệng còn xuất hiện do một số nguyên nhân khác: có thói quen thở bằng miệng (do tắc mũi); điều trị ung thư bằng chiếu xạ, dùng thuốc. Có khoảng 300 dược phẩm có thể gây giảm tiết nước bọt: các loại thuốc hướng thần (chữa trầm cảm, lo âu, rối loạn tâm thần), thuốc chữa các bệnh parkinson, tăng huyết áp, loạn nhịp tim, dị ứng, một số thuốc giảm đau, chống viêm thông thường… Các nghiên cứu đã chứng minh, thuốc có thể hủy hoại vĩnh viễn nhu mô tuyến nước bọt.

Để chẩn đoán chứng khô miệng, bác sĩ có thể đo dòng chảy nước bọt bằng cách đặt một cục đường dưới lưỡi. Bình thường, đường phải tan hết sau 3-4 phút. Nếu bệnh nhân bị khô miệng, cục đường vẫn còn nguyên hoặc chỉ tan rất ít. Các biện pháp chẩn đoán khác bao gồm: đo độ pH của nước bọt, chụp tuyến nước bọt mang tai, chụp đồng vị phóng xạ tuyến nước bọt, sinh thiết tuyến nước bọt…

Để khắc phục chứng khô miệng, cần điều trị nguyên nhân gây bệnh nếu có thể. Các biện pháp điều trị bổ sung bao gồm: giảm liều thuốc gây khô miệng hay thay bằng loại thuốc khác, tăng uống nước, nhai kẹo chua, kẹo cao su để kích thích tiết nước bọt.

Nếu những biện pháp trên không hiệu quả, bệnh nhân cần uống thêm thuốc kích thích bài tiết nước bọt như Sulfarlem S (3-6 viên/ngày), Pilocarpin (60-90 giọt/ngày), Geneserine 3 (3-6 viên/ngày), Bisolvon (4-6 viên/ngày). Dùng thuốc trong nhiều tuần, khi đạt hiệu quả thì bắt đầu giảm liều dần.

Trong một số trường hợp, có thể dùng nước bọt nhân tạo như Artisan (chứa methylcellulose) hay Saliva Orthana (chứa muxin).

Việc bảo vệ răng cũng rất quan trọng. Cần dùng thuốc đánh răng chứa fluor; trám và bọc các răng sâu, nếu răng bị hỏng nhiều thì phải nhổ. Phải bỏ hàm giả cố định khi bị di lệch, điều trị nấm lưỡi nếu có, lấy cao răng thường xuyên. Ngoài ra, cần sử dụng thức ăn lỏng, mềm.

BS Nguyễn Vĩnh Ngọc, Sức Khỏe & Đời Sốnga

Tình trạng sâu răng sữa trẻ em đang ở mức nghiêm trọng

Đó là nhận định của giáo sư Trần Văn Trường – Viện trưởng Viện Răng Hàm Mặt Hà Nội, Chủ nhiệm chương trình Nha học đường toàn quốc – tại hội nghị Nha học đường TP HCM, tổ chức sáng nay. Theo đó, ở trẻ từ 6-8 tuổi tỷ lệ sâu răng là 84,9%.

Phân bổ theo vùng địa lý thì vùng Đồng bằng sông Cửu Long chiếm tỷ lệ cao nhất: 93,7%. Đối với người lớn, tỷ lệ có bệnh quanh răng rất cao từ 93,3% đến 98,3%.

Ông Trường cho biết, phân tích 5.948 mẫu nước ăn cho thấy hầu hết các mẫu nước đều có nồng độ Fluo ở mức thấp. Trên 60% trẻ em và trên 50% người lớn không bao giờ được đi khám răng miệng. Đó là những yếu tố có liên quan đến bệnh sâu răng. Ông Trường cũng đề nghị TP HCM nên có cuộc điều tra về nước, nếu vẫn giữa được nồng độ Fluo ở mức 0,7 (mức tốt nhất) thì không cần phải súc miệng với Fluo.

Cũng tại hội nghị, bác sĩ Huỳnh Đại Hải – Giám đốc bệnh viện Răng Hàm Mặt TP HCM, báo cáo chương trình nha học đường tại thành phố đã đạt được những thành quả tốt: tỷ lệ sâu răng vĩnh viễn ở trẻ em 12 tuổi từ 73,3% (1981) xuống còn 46,1% (2000); bệnh nha chu ở trẻ em 15 tuổi từ 94% (1990) giảm còn 66% (2000)…

Một trong những định hướng sắp tới của chương trình này đến cuối năm 2004 là sẽ phủ kín nha học đường cố định. Ông cũng đề nghị sớm có văn bản chính thức cho phép thu tiền trợ phí nha học đường trong trường học; có định mức lương hợp lý cho cán bộ nha học đường để gắn bó lâu dài với trường học.

Thiên Phúc

Trên 50% học sinh bị sâu răng

Bộ Y tế vừa có công văn gửi UBND các tỉnh, thành đề nghị tăng cường công tác nha học đường. Theo đánh giá của Bộ, công tác này còn nhiều khó khăn (thiếu cán bộ, thiếu kinh phí…), nên tỷ lệ trẻ em mắc các bệnh về răng miệng còn ở mức cao: trên 50% bị sâu răng và hơn 90% viêm lợi, viêm quanh răng.

Đến nay, trên toàn quốc đã có gần 2.300 điểm nha học đường cố định, được bố trí cán bộ và trang bị phương tiện, đảm bảo chăm sóc sức khoẻ răng miệng thường xuyên cho trên 5 triệu học sinh tại trường học, bằng 25% số lượng học sinh cả nước.

Mục tiêu từ nay đến năm 2010 là 50-80% trẻ em được chăm sóc răng miệng thường xuyên tại trường, phường, xã. Để đạt được mục tiêu trên, Bộ Y tế đề nghị chủ tịch UBND các tỉnh, thành quan tâm chỉ đạo, bố trí kinh phí cho chương trình này; giao cho Viện Răng Hàm Mặt Hà Nội và TP HCM giúp đỡ, đào tạo về mặt chuyên môn, kỹ thuật và đào tạo cán bộ cho các địa phương.